Tôi nghĩ rằng khi đọc xong tập hồi ký vượt Trường Sơn này của nhà văn Xuân Vũ, mỗi độc giả tùy theo thân thế và tâm sự riêng biệt của mình, có thể có những cảm nghĩ rất khác nhau.
Người thích phiêu lưu mạo hiểm, say mê những chân trời xa lạ, những câu chuyện sôi nổi được tác giả ghi chú rất linh động trong tập sách.
Kẻ ưa mơ mộng, thương cảm nỗi vất vả nhọc nhằn của người nữ vũ công có đôi bàn chân sáp đúc trầy trụa vì đá tai mèo trên những đỉnh núi cụng trời.
Chính khách thời thượng gật gù khen nội dung tốt. Độc giả khó tính tặc lưỡi cho là sách tuyên truyền.
Tôi lại nghĩ rằng mỗi độc giả chúng ta, dù khen, dù chê văn tài của tác giả, dù chăm chú, dù hời hợt theo dõi diễn biến câu chuyện, đều không thể chối cãi một sự kiện hiển nhiên là nội dung cuốn sách đượm tính chất xác thực, không dài dòng lê thê, không hoa hoè hoa sói, không bịa đặt, không xuyên tạc, không phỉ báng ai mà cũng không ca tụng ai.
Người viết chỉ ghi lại những điều mắt thấy tai nghe cùng những cảm nghĩ của mình trên đường vượt Trường Sơn trở về Nam thi hành nhiệm vụ giao phó.
Tính chất xác thực nầy, những ai đã từng leo đèo vượt núi, những ai có liên hệ ít nhiều với dãy Trường Sơn trùng điệp đều làm chứng cho tác giả.
Nói một cách khác, tập hồi ký này ghi lại trung thực một đoạn đời của nhà văn Xuân Vũ trong sự nghiệp phục vụ quê hương.
Tôi gặp nhà văn Xuân Vũ giữa năm 1971, sau khi anh đã thành công vượt mọi gian khổ, vượt dãy Trường Sơn, nhưng không vượt được nỗi khủng hoảng ngày đêm dằn vặt tâm tư. Đưởng Đi Không Đến .
Trên đường vô Nam, anh đã đến nơi đến chốn, nhưng trên đường tiến tới sự nghiệp phục vụ quê hương đường đi đã bế tắc. Đau đớn cho anh, anh đã tiêu phí 20 năm trời đã đi trên con đường ngày nay bí lối đó. Cơn khủng hoảng thật là trầm trọng, khủng hoảng tâm thần, khủng hoảng lý tưởng.
Tôi nghĩ rằng trường hợp của nhà văn Xuân Vũ không phải là một trường hợp cá biệt.
Một số độc giả chúng ta cũng như rất đông anh chị em ruột thịt chúng ta còn ở bên kia chiến tuyến ngày đêm cũng khắc khoải suy tư về một lối thoát vẹn toàn cho cơn khủng hoảng thời đại đó.
Khắc khoải suy tư, khủng hoảng tâm thần, khủng hoảng lý tưởng… bởi lẽ chúng ta còn là người Việt Nam và dòng máu sôi sục trong huyết quản chúng ta, đầy ắp truyền thống Việt Nam hào hùng của biết bao nhiêu thế hệ tiền bối Việt Nam.
Tôi nhớ là đã nói chuyện nhiều với nhà văn Xuân Vũ về Đưòng Đi Không Đến của anh, của số đông chúng ta, và khuyến khích anh cố gắng vượt qua cơn khủng hoảng tâm thần để tìm đi đúng con đường vì dân vì nước .
Để dẫn chứng, tôi đã tâm sự với nhà văn Xuân Vũ về việc gia tiên ngày xưa đương chức tri huyện Lê Thủy, Quảng Bình, lúc Vua Hàm Nghi xuất cung truyền hịch đã khẳng khái treo ấn từ quan, hưởng ứng việc Cần Vương, để rồi ngậm ngùi, thống hận tử trần, tuổi chưa được 40.
Sau này, gia nghiêm khăng khăng không chịu ném bút lông cầm bút sắt, tuy giữ được khí phách sĩ phu, nhưng cơn khủng hoảng lý tưởng càng trầm trọng hơn, đường đi hoàn toàn nghẽn lối.
Tôi đã nói cho nhà văn Xuân Vũ biết là kinh nghiệm dòng họ khiến cho tôi ngày nay nghĩ rằng chúng ta không thể quá khích mà cũng không thể tiêu cực.
Đường đi của chúng ta phải là con đường thích nghi với hoàn cảnh năm châu họp chợ, thích nghi với trình độ kỹ thuật không gian và thế quân bình lực lượng của các đại cường.
Đành rằng chúng ta yêu nước nồng nhiệt, đành rằng chúng ta lập chí lớn lao, nhưng chúng ta phải biết lượng sức dân, sức nước.
Yêu nước thì phải thương dân, trước hết phải lo cho dân có cơm áo.
Yêu nước nhất quyết không phải là mưu đồ sự nghiệp cá nhân, mặc cho dân chúng lầm than, quê hương tan nát.
Yêu nước càng không phải là điên cuồng nhắm mắt đưa toàn dân vào con đường đấu tranh ngu xuẩn và vô vọng có thể mang tới hậu quả diệt quốc, diệt chủng.
Yêu nước lại càng không phải là cưỡng bức nhân dân thắt lưng buộc bụng, nhịn đói, nhịn khát để tập trung tài nguyên nhân lực vào việc dùng vũ lực mưu toan áp đặt một nền nếp suy tư và những phương thức hành động đã được đúc khuôn mà dân chúng không mong muốn.
Các nhà cầm quyền Miền Bắc nên ra khỏi tháp ngà để ngẫm nghĩ về điều đó.
Tôi lại cũng nghĩ rằng :
" Yêu nước không phải là tiêu cực chống đối . Những lời phê bình vô trách nhiệm, thái độ bất hợp tác hoặc lề lối buông xuôi, chỉ biết thở ngắn than dài, ưu thời mẫn thế, không phải là phương châm hành động của con cháu những người đã xông xáo ra Bắc vào Nam, bình Chiêm phạt Tống, gây dựng nên cơ đồ ngày nay để lại cho chúng ta.
Yêu nước thì không thể thản nhiên nhắm mắt ngồi bất động để mặc bọn ma đầu phá hoại cơ nghiệp của cha ông.
Yêu nước thì phải tích cực hoạt động, xây dựng đổ vỡ, vun quén tình hình, loại bỏ bọn sâu dân một nước, dạy dân, nuôi dân, cho dân sinh dân trí mỗi ngày một thêm phát triển.
Các bậc có trí thức tại Miền Nam tự do này nên nghĩ tới trường hợp Vua Chiêu Hoà nước Nhật Bản sau ngày bại trận, khôi phục lại địa vị đại cường.
Ai bảo hành động của Vua Chiêu Hoà từ năm 1945 đến nay lại không sáng suốt và ích lợi cho quốc dân Nhật Bản như công cuộc duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng 100 năm về trước.
Trên con đường sự nghiệp phục vụ quê hương, đi như Xuân Vũ đi trong tập hồi ký này thì đường đi nhất định không đến, đi như Xuân Vũ đang đi ngày nay thì đường đi nhất định phải đến.
Saigon, ngày 2 tháng 7 năm 1973
Bác sĩ HỒ VĂN CHÂM
ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN :
Chương 1 - (Xuân Vũ)
….Bộ đội ở phía sau đi tới. Họ khiêng, họ vác, họ gánh. Lặng lẽ, nặng nề, từng nhóm, từng người, có khi năm bảy chục thước mới có một tốp, một người. Cự ly hành quân chẳng rõ được qui định là bao nhiêu.. Đó là vì Trường Sơn hiểm trở, nhưng trước nhất là vì đôi chân…
Thấy bộ đội đi, tôi và Lâm nhường bước, nép vào đường.
Quần áo họ mốc cời, có cái vai áo rách toạc xuống nửa cánh tay, nhiều mái đầu như rú rậm, họ đi ngang đã nghe thấy một mùi chua khét lạ lùng.
Nòng súng họ nhét giẽ rách, hoặc để trống hốc, sét rơi ra vàng oách. Nhiều ngườl gánh hẳn hoi bằng một thanh tre tươi. Ba lô một đầu súng và cạt-túc-se một đầu, như gánh những xâu thịt lợn. Người đi sau chót vừa đi vừa rên khừ khừ.
Tưởng đơn vị đã đứt đuôi, tôi sửa soạn cho đoàn của tôi tiếp tục đi nhưng nhìn lại thì thấy đơn vị còn lục tục ở phía sau.
Đột nhiên Lâm hỏi tôi :
– Này về tới Nam Bộ, anh sẽ ăn món gì trước nhất?
– Chè đậu ! – Tôi đáp không cần suy nghĩ.
Vì sao tôi không suy nghĩ ? Bây giờ, khi nhớ lại, tôi mới hiểu ra rằng đi đường mất calori nhiều quá, lúc nào cũng thèm đường.
Đâu chỉ có một kí lô đường cát trắng được phát cho từ Hà-Nội mà đi hơn 1 tháng, trèo đèo lội dốc suốt ngày mà không dám đem đường ra ăn.
Đường được xem như một thứ tiên được. Lúc sắp quỵ xuống kìa mới dám nghĩ tới thứ thuốc tiên đó !
Cái cách ăn đường cát của những gã chân chỉ lội Trường Sơn đã làm cho nó trở thành tiên dược.
Đâu có phải bỏ nó vô nước khuấy cho tan ra rồi uổng, mà phải chờ đến lúc khuya canh vắng, bên cạnh mình không còn ai thức mới sẻ lén mở ba lô ra lấy cái túi đường còn kha khá đó ra rồi mở sợi dây buộc túi đường một cách vô cùng cẩn thận, kẻo người bên cạnh nghe thì chết.
Xong, mới bằng một cử chỉ vừa cẩn thận, vừa trang trọng, dốc ngược cái túi lên, tay giữ miệng túi sát vào mồm, tay bóp đít cái túi khe khẽ cho đường chảy vào mồm.
Những hạt đường của Cu-Ba anh em (!) lăn trên thành túi ni lông nghe như những hạt sõi lăn trên sườn núi. Đợi đến khi số hạt đường nhất định đã rơi vào mồm thì chủ nhân mới bèn bóp cái miệng túi lại và khãy nhè nhẹ cho những hạt còn vô tình hay cố ý dính lại đấy rơi hẳn vào mồm chủ nhân, rồi mới buộc thắt nó lại.
Những hạt đường đã nằm trọng miệng của chủ nhân rất yên trí rằng chúng không bao giờ bị thương, bởi lẽ rất giản đơn là chủ nhân không bao giờ dám nhai, bởi lẽ rất giản đơn nữa là nếu nhai thi đường sẽ chạm vào răng và gây nên những tiếng động và một khi cái tiếng động ấy bị lọt vào tai của một anh chàng ‘Vô Ngại Tưởng Quân’ nằm bên cạnh thì không chóng thì chầy chủ nhân của túi đường sẽ đau khổ vì bị vị tướng quân này không ngần ngại xỉn… đường.
Mà trên đường Trường Sơn này thì những vị vô ngại tướng quân đó ở chỗ nào cũng có.
Vl thế cho nên ăn đường cũng phải cần thận tối đa, nghĩa là để cho những hạt đường tự tan chảy ra trong mồm một cách tự nguyện.
Điểm nầy cũng còn thêm một ý nghĩa là như vậy chủ nhân sẽ có đủ bình tỉnh và thời gian mà thưởng thức cái vị ngọt ngào của đường Cu-Ba và nghe tình đồng chí xã hội chủ nghĩa anh em đi vào máu huyết của mình (!)
Nhưng đó chỉ đó là một lối tiêu thụ bình thường – để đề phòng các Vô Ngại tướng quân thôi. Còn nhiều cách khác nữa.
Vì đường nó quý quá làm vậy cho nên khi được Lâm hỏi ăn gì thì tôi đáp ngay rằng “chè”. Không phải tiếng nói của lá phổi, cổ họng mà là tiếng nói của tâm tư, của nguyện vọng.
Vì sao ? Vì lâu nay, mỗi lần cảm thấy sức khoẻ mình xuống dốc trông thấy một cách thảm hại, tôi chỉ nghĩ có một điều:
“ Ăn ”! Ăn là khoẻ ngay, là đi nhanh, là vượt dốc trèo đèo như gió, là chống được sốt, là lạc quan yêu đời, là tin tưởng Đảng Bác thêm ngay, nhưng ăn thì có cả trăm món, làm sao tạo ra ngay cho được giữa rừng thẳm núi cao này ?
Chỉ có đường là đơn giản nhất. Nhiều khi tôi chỉ cần nếm một muỗng nhỏ đường mà cảm thấy khoẻ lên rất chóng, như vừa uống thuốc tiên.
Cái tiếng ‘chè đậu’ của tôi tung ra như một quả khói mù, nhưng đồng thời cũng như một giọt nước mát xối vào mặt mọi người giữa trưa nắng cháy. Những người đứng gần tôi tựa hẳn ba lô vào vách đá cho đỡ nặng đôi vai lắng nghe tôi nói tiếp.
Tôi cảm thẩy tôi thông minh hơn chính tôi ngày thường gấp bội, thông minh hơn cả Tào Tháo khi ông ta thấy binh sĩ khát cháy cổ thì gạt chúng bảo rằng phía trước một có một vườn mơ – nhưng tôi không giống Tào Tháo vì chính tôi cũng thèm chè như mọi người trong đoàn, chứ không như họ Tào hoặc họ này họ khác ngồi mát ăn bát vàng mà xua lũ con cháu vào con đường đi không đến mà bảo rằng sắp đến nơi rồi và sẽ có mâm cao cổ đầy ở cái đích sắp trông thấy đó.
Tôi nói tiếp để phát triển thêm cái món chè của tôi :
– Chè đậu trắng, các bạn ạ! Hạt to hơn đầu đũa ăn, hạt lép đã nhặt hết rồi, chỉ còn hạt trộng – tôi nói tiếp – đem nấu với đường móng trâu, chớ không nấu với đường thốt nốt, vì đường thốt nốt hơi chua, để ăn sống thì tuyệt vời còn đem nấu chè thì không bằng đường tán đâu.
Nấu phải cho thật ngọt, ngọt gắt cổ họng, nếm vô một miếng là tằng hắng ngay. Đấy.. nấu xong nhắc xuống múc ra từng chén, chén trứng sáo to nhé, rồi mới rưới nước cốt dừa lên – nói đến đây tôi dừng lại nhìn từng người một. Gương mặt người nào người ấy sáng rỡ lên.
Tôi cũng thấy hăng hái hơn lên. Tôi đưa hai tay ra phía trước, hai bàn ấy úp vào nhau làm như đang vắt dừa.
Tôi nghiến răng và bóp vặn hai bàn tay vào nhau tỏ vẻ quyết vắt cho thật khô với một sự vui sướng thèm thuồng ác liệt, với sự tưởng tượng trông thấy món chè đặc biệt đang dọn ra trước mắt mình.
Nhưng than ôi ! qua cái cử chỉ ấy tôi hiểu rõ sức lực của tôl. Nó đâu còn đủ cho tôi làm cái việc đó. Nói trắng ra là nếu có một trái dừa phải vắt ở giữa lưng Trường Sơn này thì tôi không thể vắt lấy nổi nước cốt. Tôi cảm thấy hai cánh tay tôi rã rời, một sự rã rời làm tôi phải ngạc nhiên.
Giờ đây tôi vẫn còn nhớ hình đáng của hai cánh tay và hai bàn tay tôi lúc ấy. Màu da vàng vì sốt, sạm vì nắng, thâm vì sương gió và chướng khí núi rừng. Tôi không có chữ để gọi chính xác cái màu hổn hợp của ba màu kể trên. Tôi ngậm ngùi, nhưng vì là người có trách nhiệm nên tôi cố giấu sự bi quan, mà vẫn vui vẻ lao theo cái món chè.
Tôi đã “ vắt dừa ” xong và hăm hở nói tiếp:
– Nước cốt đặc quẹo giống như sữa. Nếm thử một miếng xem, ôi chao béo ngậy. Đây tùy thích của từng người, ai muốn béo thì “thím xực” luôn hai muỗng.
Đấy, chè đã dọn ra rồi mời các bạn cùng múc nước cốt dừa rưới lên ai muốn xơi mấy chén cứ xơi… Xơi ngay trong lúc chè hãy còn nóng để cho nước cốt dừa quến vào thành một khối vừa béo vừa ngọt nuốt đến đâu nghe bổ đến đấy !
Lâm nói:
– Riêng tôi thì tôi muốn ăn một chén, còn xin một chén.
– Úy, lố tiêu chuẩn sao?
– Không ! Một chén xin sau là để phơi sương, sáng mai dậy tập thể dục nhảy xuống sông tắm rồi lên ăn liền.
– Có súc miệng không? – Một người hỏi.
– Khà.. khà khà.
– Cái thằng nói làm nhớ nhà Má Chín ở Cai Lậy quá!
Chúng tôi ăn chè gió xong, bộ đội cũng vừa dứt đuôi. Tôi bảo:
– Tôi, anh em mình chuẩn bị đi!
Người nào người ấy mặt nhăn như bị, cất ba-lô lên vai, đành để lại bát chè đậu nước cốt dừa ấm hổi phía sau lưng.
Nhưng kìa có một người lê tới cùng đi về một phía với chúng tôi – nghĩa là Miền Nam.
Bất giác tôi ngó xuống đất. Tôi sợ hãi quá. Tôi sợ nhìn thấy tôi trong cái con người ấy.
Đó là một người, vâng, đúng là một con ngưòi vì anh chàng có đủ tất cả những gì mà một con người bình thường nhất cũng có, và có cái mà con vật không có, nhưng anh ta không còn giống bất cứ một người bình thường nào trên trái đất, mà chỉ có thể đồng hoá vói chúng tôi trên dãy Trường Sơn này thôi.
Đó là một người gầy đét, gầy nhom, gầy như chiếc que, nói theo tiếng Nam Bộ, ốm tong ốm teo. Nói tóm một câu là gầy đến mức độ không thể gầy được nữa.
Má anh ta không còn thịt, để lòi ra những góc cạnh trên mặt, mắt anh mở thau láu, không phải vì tỉnh táo mà có lẽ vì đôi mi cứng đờ không khép lại được nữa.
Bộ răng trên còn nguyên, nhô hẳn ra ngoài càng gây cho mọi người một sự gớm ghiếc của người chết với chiếc môi trên nhếch lên. Trong người anh cái bộ phận không gầy, vì không gầy đi được là bộ răng nầy.
Mái đầu anh che kín dưới làn mũ tai bèo. Vành mũ cong chụp xuống che kín đôi tai, đồng thời như cũng muốn che lấp lấy đôi tai, không cho nó thu nhận bất cứ sự việc gì bên ngoài, vì tất cả sự việc gì bên ngoài cũng không hay ho cả. Nên làm một kẻ mắt mù tai điếc mà lên bước trên con đường tối đại vinh quang nầy.
Còn chiếc mũ nữa, tôi không thể chỉ nói về nó có bấy nhiêu thôi, vì đó là chiếc mũ tai bèo của giải phóng quân “bách chiến bách thắng”. Nó có điểm hay là muốn dùng nó làm gì cũng được :
- Khăn lau mồ hôi
- Giẻ nhắc nồi, thấm chí (mà lại rất thông dụng) chỗ ngồi không đẹp người ta cũng không ngần ngại dùng đến nó.
Chiếc nón của bạn này được giữ dính vào đầu anh ta bởi một cái quai nhỏ bằng chiếc đũa choàng qua hầu. Điều đó rất bình thường nhưng ở đây anh bạn lại treo một chiếc khăn lông nhỏ ướt lòng thòng xuống trước ngực như bộ râu vĩ đại của lão già Noël.
Chân anh lê đi, khỏi phải nói, với sự tiếp sức của hai chiếc gậy bằng mây mà hai tay anh cố chống tới đều đều – một thứ chân giả mà trông ra có vẻ có nhiều sức lực hơn đôi chân thiệt của anh ta. Anh ta đi qua trước mặc chúng tôi, không nhìn ai.
Không hiểu anh ta thuộc đơn vị nào, đau ốm từ bao giờ và nhất là anh ta suy nghĩ những gì, khi lê bước chân trên con đường vào Nam theo lệnh của Đảng-Bác giải phóng Miền Nam.
Tôi đã gặp anh ta trên nhiều chặng đường cho nên tôi quen mặt anh ta, nhưng tôi muốn xem đó là một điều gì không có thực mà đó chỉ là một cái bóng, một cái vong hồn vất vưởng hiện lên như một thứ ma quái giữa chốn hoang vu mà thôi.
Bởi vì làm sao lại có thể có một cán bộ, một đội viên hay một dân công với hình hài tư thế và bước đi như vậy được trên con đường tối hậu vinh quang này?
Vâng, anh ta đang đi giải phóng Miền Nam trong một cuộc hành quân thần tốc.
Nhưng cuộc đời vẫn công bằng chính trực. Nó không để cho ai phải chịu riêng đau khổ một mình. Cho nên không những trên đường này có ông già Noël mà còn có cả bà Noël nữa.
Bà Noël đó là cô Thu trong đoàn tôi. Cô vừa trật chân bốn hôm nay nhưng cô không dám nằm lại vì sợ cái nỗi đêm khuya thân gái dậm trường, ở giữa núi rừng ma thiêng nước độc và đầy những cọp hùm rắn rết này, một thân gái bồ liễu như cô thì làm sao mà dám nằm lại?
Hơn thế nữa khi ra đi, ông chủ nhiệm ủy ban thống nhất – Trung Tướng Nguyễn Văn Vịnh có đến gặp chúng tôi và bảo rằng đoàn chúng tôi về đến nơi sẽ có Chính Phủ Liên Hiệp, tình hình sáng sủa hơn bây giờ nhiều. Như vậy ai mà nằm lại cho được. Còn một giò cũng phải nhắc cò cò đi tới chớ.
Lâm nhìn tôi và Thu, nói:
– Bà Noël đi trước đi ! Đụng đầu mãi mà chẳng có tí quà nào cả !
Thu không cười. Cũng không ai cười. Vì cười cũng là một hình thức vận động làm cho mất nhiệt lượng đi. Đã không cười, Thu lại còn hơi cáu. Thu chống gậy lê cái chân sưng phù đi tới và càu nhàu:
– Buốt tận tủy đây còn quà với cáp !
Tôi thấy thương tâm quá. Với lại cũng có một phần trách nhiệm, nên tôi không nở bỏ Thu rơi lại phía sau.
Cứ bước một bước Thu lại nhăn mặt. Thu phải cân nhắc từng bước một, phải tìm một chỗ phẳng rồi mới từ từ đặt chân lên. Thu sợ tất cả mọi hòn đá trên mặt đường. Mà cái mặt đường vinh quang, đường giải phóng Miền Nam này có chỗ nào là không lởm chởm đá và gai ?
Thu quen đi guốc cao gót nhảy múa trên sạp phẳng như mặt hồ Gươm và uốn mình theo những điệu nhạc làm rung động lòng người.
Thu quen trình diễn dưới ánh điện rực rỡ và quen nghe những tràng vỗ tay tán thưởng tài nghệ của nàng.
Đôi chân của nàng làm bằng sáp chứ đâu phải đúc bằng đồng bằng sắt như chân pháo binh bộ binh.
Ấy vậy mà chưa học xong chương trình múa ba-lê nàng đã xung phong đăng ký vào Nam biểu diễn cho đồng bào Sàigòn xem (!).
Tôi nhìn bàn chân và cổ chân của Thu. Thật đáng ngại. Nó bầm xanh. Thịt da có lẽ đã thối ở bên trong. Nó đang mưng mủ.
Tôi nghĩ dại, đời cô văn công ca múa này, thế là hết. Nó mà xì mủ ra, gì chưa biết chớ phải lấy Trường Sơn làm nhà ít nhất là nửa năm.
Anh em khặc khừ qua mặt chúng tôi hết. Tôi cũng không nhớ rõ lúc bấy giờ là bao giờ. Chúng tôi không thích mặt trời, mặt trăng và ngay cả mặt người, người thân đi bên cạnh cũng không thích nhìn nốt. Có gì hay ho đâu ?
Chỉ còn tôi và Thu sót lại sau rốt. Tôi thấy Thu không thể đi nổi nữa. Tôi bèn bảo Thu cởi ba-lô đưa tôi mang hộ. Thu không ngần ngại tí nào. Có lẽ nếu tôi không bảo, Thu cũng sẽ nhờ tôi. Ba-lô tôi đã nặng, lại còn đeo thêm dùm người ta.
“Ốc không lo phận ốc lại còn làm cọc cho rêu” là thế. Tôi và Thu bỗng trở nên đôi bạn đồng hành khắn khít không phải vì tình cảm mà vì hoàn cảnh.
Vậy là tôi không lo bị cô đơn dọc đường. Nhưng mỗi đứa đau một bệnh. Tôi thì sốt, còn Thu thì què. Đứa nào cũng sợ bệnh mình cứ nặng thêm lên và lo bạn mình chóng lành hơn mình và bỏ mình lại với rùng núi và người ngợm không quen.
Hai đứa chỉ đi một quảng ngắn thì Thu ngôi phệt xuống và kêu nhức. Thu rưng rưng nước mắt và ôm cái bàn chân như ôm một cục than lửa, muốn bốc nó lên mà trái lại không dám sờ đụng nó.
Tôi hỏi trỏng:
– Không ráng lên nổi chút nữa à?
Thu lắc đầu mếu máo. Tôi hơi bực mình nhưng cũng thương tâm. Tôi hỏi:
– Thu có dầu nóng không ?
– Không!
– Có thuốc đỏ không ?
– Không, anh ạ !
– Có cù-là không ?
– Có … nhưng hết rồi !
Tôi bực mình quát to:
– Cái gì cũng không vậy ?
Thu cúi đầu. Thu nhìn hai bàn chân của mình sưng to như một chiếc bánh bò. Đi Trường Sơn không gì đáng sợ bằng sốt rét, không gì quý hơn đôi chân. Thế mà Thu lại đau chân.
Tôi ngồi xuống bên Thu, nhìn cô nàng. Đây là lần đầu tiên từ một tháng nay tôi mới có dịp nhìn kỹ một người con gái, hay đúng ra, nhìn kỹ một con người.
Thu đã biến đổi rất nhiều so với Thu trước đây hơn một tháng. Cái cổ Thu cao lên trông thấy, và những ngón tay thì gầy đi, để lồi lên những đốt xương, còn những ngón chân, hai bàn chân, niềm tự hào của Thu, bây giờ trông đến thảm hại. Tôi không dám nhìn nữa.
Thu tự hào vì đôi chân Thu đẹp. Thu biết rõ điều đó là vì chính nó nâng Thu bay lên như đôi cánh. Cho đến bây giờ tôi mới thấy xót thương. Cứ nghĩ lại cuộc sống trước đây một tháng của Thu thì tôi thấy thương người con gái vô ngần.
Chân vũ nữ múa ba-lê mà lại mang ra thử thách với đồi núi, với đá tai mèo Trường Sơn. Hà Nội đã đạt kỷ lục trong lối dùng người của họ. Phải nói thêm rằng lối dùng người tàn nhẫn của họ.
Tôi hỏi Thu :
– Bây giờ em tính thế nào?
– Anh hỏi thế nào là thế nào?
– Nghĩa là … – Tôi ngập ngừng không muốn nói rõ ý. Tôi muốn hỏi nếu đôi chân của Thu không lành thì Thu tính thế nào ?
Nhưng câu hỏi đó là cây kim sẽ chích vào bọc nước mắt đầy ứa của đôi mắt Thu cho nên tôi lặng thinh và rẽ sang ý khác.
Tôi hỏi:
– Sao em không có chuẩn bị gì hết vậy?
– Anh cũng biết vì sao mà !
– Ờ. Phải! Cái thằng cha bí thư toàn nói láo. Đi Trường Sơn cái gì cũng ..cha Tây.
Cứ ăn no phè phè rồi đi như đi dạo. Chặng nào cũng có căng-tin !
Thu thở dài, Thu đưa tay gãi mấy vệt bùn trên bàn chân đau, lại thở dài và lắc đầu. Còn tôi thì cứ căm gan thằng cha bí thư.
Thu ngước lên nhìn tôi và nói:
– Vì cả tin cho nên em đâu có chuẩn bị làm cho cho vô ích. Em còn khuyên bạn em về Hà Nội chỉ nên lượn phố cho bõ những ngày xa cách sắp tới; mình phải đi xa hồ Gươm, hồ Trúc Bạch, tuy nói là đi giải phóng Miền Nam ắt sẽ có ngày về, nhưng ngày đó là ngày nào ai mà đoán trước cho được.
Về Hà Nội thì em mặc áo dài, hết cái này đến cái khác, đi luợn phố cho mệt mới về.
Thu lặng thinh giây lâu rồi mới tiếp:
– Không biết các anh có tình cảm đó không, chứ riêng em thì thật là trẻ con như vậy đó. Nhiều khi em ứa nước mắt, em nghĩ chắc bây giờ mấy cái áo của em chúng nó đang nhớ em lắm.
Chậc! bây giờ rủi mà phốc được về Hà Nội thì không dám chường cái mặt ra đâu. Và mặc áo dài đâu có được nữa, nó rộng thùng thình ai mà xem cho ?
Thu bị lôi cuốn theo tình cảm của Thu về Hà Nội. Sự thực tôi thấy thương Thu và nhớ Hà Nội. Không biết thương Thu hơn hay nhớ Hà Nội hơn, có lẽ hai tình cảm như nhau, bởi vì trong Thu có Hà Nội mà Hà Nội bao giờ cũng in đậm bóng hình Thu.
Tôi còn thương Thu vì càng đi Nam thì Thu càng xa quê, còn tôi thì càng gần. Cuộc đi này có phải chăng chỉ có lợi cho tô i?
Đôi lúc tôi cũng có cái tình cảm lạ kỳ này:
Tại sao lại bắt Thu phải bỏ nhà trường mà đi trên con đường khổ ải này? Và phải chăng khi ra đi Thu tỏ ra rất tự nguyện, bây giờ đây Thu vẫn còn tự nguyện hành quân và vẫn còn thấy những điều của các vị lãnh tụ nói với Thu là đúng? Nếu thế thì Thu khóc làm chi khi nhìn thấy đôi chân ngọc của mình sưng húp ?
Tôi nói với Thu:
– Anh đâu có đồ gì đâu mà mặc đi bát phố như em.
Mùa hè thì sơ-mi trắng pôpơlin quần kaki, mùa đông thì cũng thế, thêm một bộ áo bông vĩ đại khoác bên ngoài, nếu có mưa thì trùm một cái áo đi mưa dày mo may bằng hai tấm vải bạt Trung Quốc, đầu trùm một cái kê-pi có tai, thế thôi! Anh ra đi đâu có để lại cho bạn bè cái gì đâu, ngoài đôi giày hả họng và cái áo “tố lãm” của anh ?
Thu cười:
– Vậy em tưởng anh có ít nhất vài ba com-lê chứ?
– Làm gì !
– Còn xe đạp anh để lại cho ai ?
– Cho anh em trong xưởng Thống Nhất.
– Sao anh lại cho những người công nhân trong xưởng là những người dễ mua xe hơn những người khác ?
Tôi phì cười:
– Em ngây thơ quá. Là vì anh chưa mua nổi nghe chưa ?
– Anh chưa mua nổi hay là anh chưa có phiếu ?
– Chưa mua nổi mà cũng chưa có phiếu em ạ.
– Vậy càng hay, còn em thì thật oái oăm. Lúc mình có tiền thì bình bầu không được phiếu, còn khi có phiếu rồi thì lại hết tiền. Cho nên mãi tới em lên đường chiếc xe đạp vẫn còn năm trong giấc mơ.
Rồi chúng tôi lại đi, càng lúc càng chậm chạp, còn câu chuyện thì cứ nhạt dần.
Hôm qua anh chị em bị một trận mưa suốt dọc đường. Ở rừng núi mà lại đi với giao liên thì làm sao mà nghỉ được, vả lại có nghỉ thì cũng không có chỗ đứng cho nên mưa thì cứ mưa, đoàn cứ phải “can đảm” “anh dũng” xông pha mưa gió vậy. Cho nên bây giờ tôi đã bắt đầu nghe ơn ớn trong nguời rồi.
Cơn sốt đến rất nhẹ nhàng dễ biết. Dễ biết hơn nữa vì nó đã đến với tôi nhiều lần và tôi đã cắn răng chằn mắt mà tống cố nó đi một cách hết sức dũng cảm. Nó đi nhưng tôi biết nó sẽ trở lại bởi vì nó biết chắn chắn sẽ có một lần nào đó, tôi sẽ đón lấy nó hoàn toàn. Lần đó là lần này đây.
Hôm qua, đến nơi, sau khi mắc tăng căn võng tôi thay quần áo ngay, và lần đầu tiên trong đời tôi biết kí-nin đắng như thế nào. Rồi tôi nấu cơm ăn xong ngủ cũng rất ngon, sáng dậy trước khi lên đường tôi lại uống thêm hai viên kí-nin loại nặng nữa.
Khi rời Hà Nội tôi định không mang cái túi thuốc của nhà trường cấp cho- cái gói nặng hơn kí-lô và gồm bằng mấy chục thứ thuốc, có cả thuốc trị rắn cắn- vì tôi cho rằng tôi không thể ngã bệnh được với cái quá trình mười hai năm ở Hà Nội, không hề đi bệnh viện của tôi.
Chẳng ngờ cái quá trình đó không còn uy lực trên chặng đường này nữa. Với con sốt rét rừng voi cũng ngã.
Miệng tôi bắt đầu thấy đắng, những đốt xương sống như rời ra, tay thấy lười cử động, chân thì cứ lê đi nhưng càng lúc càng chậm, đầu choáng váng và mắt hơi hoa lên.
Nắng loang lổ trên đường đá lởm chởm. Tôi tìm những chỗ nắng mà bước. Nắng chạm vào da tôi, gây nên một phản ứng khó chịu. Tôi cảm thấy gây gây ngần ngật không ấm áp tí nào như mọi khi sau cơn mưa gặp nắng.
Lũ vi trùng trong máu tôi, tôi như trông thấy rõ từng chú một như những chú kiến chạy hàng đàn, mỗi chú ngạm một hồng huyết cầu của tôi như mỗi chú kiến tha một hạt gạo.
Sự chuyển động của hằng triệu con vật li ti đó làm cho tôi mất thăng bằng, cơn lạnh nổi lên từ trong máu, trong tủy, làm thể nào ánh mặt trời xoá tan đi được?
Các bắp thịt của tôi như bị dãn ra hết không còn sức bật nữa và tôi nghe máu tôi loãng ra như có ai pha nước lã vào đấy. Tôi vung tay gồng mình thoi vào thinh không như bốc-xơ tập võ một mình. Tôi vặn mình sang bên này sang bên kia. Tôi cố vận chuyển tất cả những bắp thịt của tôi để chống lại cuộc tấn công thầm lặng của lũ vi trùng nhưng cuối cùng, tôi đã run lên.
Và cuối cùng tôi phải bảo Thu chờ tôi đi rẽ vào rừng đốn lấy một chiếc gậy.
Tôi rút con dao trong lưng ra, một con dao găm, cán gỗ có ngấn, đánh vẹc-ni màu nâu, lưỡi dao dầy như lưỡi búa. Đó là con dao của hợp tác xã xứ xã hội chủ nghĩa rèn, trao cho mỗi con người đi giải phóng Miền Nam, con dao mà chúng tôi đã nguyền rủa ngay từ khi đốn cái cành tre đầu tiên làm đũa.
Tôi chọn một cái cây nhỏ, ít nhánh và ngay ngắn trong một bụi của nó. Đó là một thứ cây rất giống cây mật cật của rừng U Minh nhưng thu nhỏ lại còn độ một phần mười. Tôi tưởng nó mềm lắm chỉ độ vài dao là hạ được rồi, chẳng ngờ tôi giạng thẳng cánh tay bổ đến hơn mười lăm phút mà chẳng ăn thua.
Đối với một việc nhỏ như vậy còn tính nhầm thay huống gì những chuyện lớn ví dụ như chuyện vượt Trường Sơn này. Tôi nhìn theo con dao, khổ quá cái lưỡi của nó dày ù, tôi đã mài mấy lần, hễ nó càng mỏng, đem đốn cây thì nó lại càng mẽ.
Thực tình những người thợ rèn cũng rất đáng thương. Họ đâu có đủ thép pha vào sắt kia. Nhà máy nấu thép ở Thái Nguyên chưa xây xong. Nghe đâu người ta có nấu thử một mẻ tốt lắm đạt yêu cầu quốc tế, không thua thép Trung Quốc và Triều Tiên, nhưng khổ thay họ chỉ nấu có một mẽ để coi chơi thôi, chớ không nấu nhiều.
Thật là bực mình, cũng như tôi rất bực mình khi thấy trong những tủ kính mậu dịch, hàng bán thì ít mà hàng mẫu “miễn hỏi giá và không bán” thì nhiều.
Vâng, thép trong con dao găm này không đủ làm cho con dáo bén đến độ cần thiết cho người đờì, nói đúng chữ nghà nghề là con dao non.
Cũng như những kẻ đi trên con đường này khi mới xuất phát thì tưởng mỗi người như một lưỡi gươm linh, chém một nhát là rụng đầu đối phương, nhưng khi đi được ít chặng thì cái lưỡi gươm đó bỗng nhiên trở thành non nhão lạ thường, cũng như con dao găm nầy đốn mãi không ngã đến cái cây lớn hơn ngón tay cái.
Tôi lôi được cái gậy ra đường thì tay chân rụng rời. Thu biết tôi sốt. Tôi mà đi gậy là chuyện không thường. Thu hỏi:
– Anh sốt phải không?
Tôi gục đầu giữa hai đầu gối và không đáp.
Chung quanh tôi, trời đất tối sầm lại. Đốn một cái cây, đó là cái thước đo sức mạnh khỏe của tôi. Tôi quá tự tin cái sức khỏe của mình.
Trên đường đi tôi luôn luôn nhắc nhở anh em không nên uống nước suối sống nhưng chính tôi lại làm việc đó một cách vô cùng hồn nhiên.
Tôi ngủ ít khi nằm gọn trong màn vì màn mắc trên võng thì tù túng quá, tôi luôn luôn thò đầu ra ngoài.
Đó là hai cách rước vi trùng sốt rét vào mình nhanh chóng và nhiều nhất. Vì thế, là người khỏe nhất đoàn, tôi lại là người ngã ngựa sớm nhất của đoàn.
Bây giờ thì tôi không còn cần gì hết. Tôi không muốn cử động, không muốn ai động đến tôi. Nếu tôi ví một cách chính xác thì tôi là một cái bánh tráng nhúng nước treo trước gió. Tôi chỉ muốn nằm quặp xuống đây gối đầu lên một hòn đá, và hoá đá luôn. Tôi muốn lịm đi rồi chết hẳn không biết đau đớn gì càng tốt.
Nhưng tôi là đứa cháu của Bác và Đảng, và con yêu quí của nhân dân Miền Nam, là bạn của Ốt-Trốp-Xơ-Ki nhân vật anh hùng của Thép Đã Trui, thì làm sao có tư tuởng lạc hậu như thế được.
– Đi anh, đi – Thu giục tôi.
Tôi cố ngóc cổ dậy và mở mắt nhìn. Chung quanh tôi như tẩm kí-nin một màu vàng oách. Tôi chống tay lên cái đầu gối đứng đậy với sự giúp sức của Thu. Thu đã mang lấy ba-lô của nàng, không để cho tôi mang giúp nữa. Quả tình là bây giờ tôi yếu hơn Thu, và bây giờ tôi mới biết thế nào là cơn sốt.
Chúng tôi lê chân đi với nhau, chậm chạp như nhau và đau đớn rên siết như nhau.
– Anh sốt lắm phải không?
– Như có lửa trong máu – tôi tiếp – nhưng đối với anh thì sốt dễ chịu hơn rét.
Tôi sợ Thu chần chờ bận bịu với tôi nên tôi bảo:
– Em đi trước đi !
– Em đi với anh chứ.
– Không nên lướng vướng với kẻ ốm. Thu cứ đi đi.
– Cả đoàn không ai ở lại đây hết.
– Được rồi, chừng nào tôi tới thì tôi tới.
Tôi biết Thu là cô gái rất đôn hậu, ăn ở có tình nghĩa, Thu rất khổ tâm vì Thu không giúp được gì tôi trong buổi này.
Hôm Thu ngã trặc chân không đi được thì chính tôi là người đề ra ý kiến đầu tiên khiêng Thu đi. Ý kiến đó được đề ra, trước tiên trong chi bộ bị phản đối dữ dội nhưng tôi đã cương quyết giữ ý kiến của tôi bằng nguyên tắc tổ chức, bằng tình cảm và bằng cử chỉ thực tế.
Tôi đã xung phong đi chặt cây đòn đầu tiên và khiêng chặng đầu tiên. Sau đó thì mọi người dù bất mãn cũng phải kê vai vào đòn khiêng.
Thu thấy tôi đứng dậy và liếc nhìn tìm chỗ ngã lưng thì Thu sa sầm mặt lại :
– Anh ở lại một mình thì làm sao?
Tôi cứ lặng lẽ ngồi phệt xuống đất như một tảng đá bị đứt giây rơi xuống đất.
Thu không nở rời tôi. Nàng hỏi:
– Em còn nước đây anh có uống không?
Nước ở trên đường Trường Sơn mà sao không uống. Có bao giờ ai dám mời ai. Đã không mời lại còn giấu và không bao giờ dám nhận mình còn nước dù nước khua lỏng bỏng trong bi-đông đó.
Nước là máu đối với người, là thuốc bổ đối với cơ thể, ai đi cho máu và đem thuốc bổ của mình cho người khác bao giờ ?
Ấy vậy mà Thu cho tôi, cho tôi một cách thật sự, thật tình và tôi thì không dám nhận.
Tôi nói:
– Anh không khát em ạ !
– Sao lại không khát. Anh đang sốt, anh cần nước hơn em.
– Bao giờ khát anh sẽ xin…
Thu mở nút bi-đông và ngồi xuống để kê miệng bi-đông vào miệng tôi. Thu không cởi cái bi-đông ra được vì khi mang đồ đạc, Thu cũng như mọi người đều mang bi-đông vào trước rồi mới quàng ruột tượng và các món khác chồng lên.
Đó là một sự cố ý, để khỏi bị mất bi-đông (mất vì rơi rớt, vì bỏ quên hoặc bị ăn cắp) và để mỗi khi nâng bi-đông lên miệng của chính mình cũng khó khăn và vì thế người ta sẽ ít uống nước.
Thu ngồi xuống một cách khó khăn vì chân đau nhưng Thu đành chấp nhận một sự hy sinh con con. Thu ngồi trên một chân và đưa bi-đông vào mồm tôi. Tôi vẫn lắc đầu, tôi thấy cơn khát tan biến đi mất.
– Cám ơn em !
Rồi tôi bảo:
– Thôi em cứ đi trước đi cho kịp đoàn (mặc dù tôi biết không thể nào Thu bắt kịp) còn anh thì ngồi tại đây…
- Tôi bi quan đến nỗi muốn nói rằng:
- " Nằm lại đây và làm phân bón cho cây Trường Sơn thêm xanh và đỉnh Trường Sơn thêm cao, cho vinh quang của Bác và Đảng cao ngất và chói lòa khắp biển Đông. Nhưng tôi tốp lại cái ý nghĩ đó kịp thời và tôi nói với giọng lạc quan hơn
–…anh nằm lại đây đến mai anh sẽ tiếp tục đi, sốt một cơn có nghĩa lý gì !
Thu càng bận bịu tôi càng giục càng gắt gỏng và cuối cùng có lẽ Thu nhận ra rằng tôi nói đúng nên Thu đi .
Trên Trường Sơn này bỏ nhau là chuyện tất nhiên. Người bỏ đi hình như cũng không ân hận gì hết.
Còn người bị bỏ lại cũng không – hoặc không nên – lấy đó làm buồn, vì cái luật chung là ai cũng là kẻ bị bỏ rời và ai cũng sẽ bỏ rơi người khác, cho nên cuối cùng rồi không ai ân hận, không ai trách ai.
Vì ở lại làm gì ? Thuốc men thì đứa nào cũng có, còn nấu cơm nấu cháo thì dễ dàng thôi, ai mà chẳng tự làm lấy được? Nếu rủi có chết thì cứ nằm đấy vài hôm rồi cũng rã tan.
Tôi nhìn Thu chống gậy lê bước trên con đường nhấp nhô những hòn đá. Tôi nghĩ đến một màn múa tuyệt đẹp trên sân khấu nhà hát lớn thành phố Hà Nội, cũng đôi chân ấy, nhưng giờ đây nhiều khi qua suối, tôi được nhìn rõ hơn – đôi chân đẹp nhất Hà Nội.
Rồi Thu khuất hẳn trong mắt tôi. Tôi gục đầu xuống trên hai đầu gối, môi thấy khô khan. Tôi đã không uống ngụm nước của Thu mời
– Tôi cũng không hiểu tại sao – trong lúc tôi đang khát cháy cả ruột gan, có lẽ vì tự ái và tự trọng.
Tôi định gục đầu ngồi như thế cho đến bao giời thì đến, nhưng tôi ngồi chưa yên thì tôi đã ngạc nhiên :
Cái mặt phẳng mà tôi ngồi tự nãy giờ, ô hay không phải bằng đá núi mà là bằng sắt. Nhưng tại sao lại có một tảng sắt to thế nằm giữa chỗ này?
Câu hỏi đó làm cho tôi tỉnh dậy và bắt đầu tìm hiểu. Sự tìm hiểu đó kéo dài không quá cái tích tắc thì tôi đã nhận ra đó là cái đế súng cối.
Nó bằng sắt thép thật. Đáng lẽ nó phải được nâng niu lau chùi và luôn luôn ở những nơi thích đáng nhưng vì nó bị vứt ở đây cho nên nó mới ra nông nỗi ấy. Nó mất hết chức năng, mất hết giá trị.
Ai đi qua cũng dẫm lên, ai muốn ghé đít ngồi thì cứ ghé. Mấy ai còn nhìn ra nó như tôi. Mà dù có nhìn ra nó đi nữa thì phỏng tôi đã làm được việc gì đối với nó ?
- Nó đã rỉ sét. Màu sét làm cho nó tiệp với màu đất nâu. Tôi bỗng thấy tỉnh người và tôi chua xót nghĩ đến số phận của tôi một cách duy tâm, rằng sự “gặp gỡ” giữa tôi và cái đế cối này là một điềm gở cho tôi. Tôi vốn là một con người hay suy nghĩ thì làm sao tôi không suy nghĩ cho được khi tôi ngồi ở đây mà sốt.
Anh binh sĩ nào đã vứt cái đế cối xuống đây ?
Cái đế súng cối này đã từ trên vai một binh sĩ nào tuột xuống đây ?
Nó không muốn rơi xuống đây nhưng vì người ta vứt nó xuống nên nó phải nằm ở đây, nhưng binh sĩ đó tên gì ? Ở đâu ? Anh ta đã vác cái khối sắt này từ bao lâu và anh ta đã nghĩ gì khi trút cái quả núi con này xuống đây ?
Trời ơi ! Tôi không hiểu được cái sức lực nào đã chuyển nỗi cái đế cối 82 ly qua những dãy núi trùng điệp này.
Trong khi tôi chỉ mang có một cái ba-lô đựng toàn của riêng tôi, nghĩa là những đồ ăn, đồ ngủ mà chỉ tôi xài, không ai có quyền động tới.
Trong khi mà tôi tìm từng những mẫu giấy trong cái vỏ lưỡi lam, và tất cả những đồ vật có sức nặng bằng cái nút áo trở đi để giảm chính.
Trong khi mà tôi chỉ mang giúp cho anh bạn chí thân của tôi một cái áo mỏng nặng không đến 300 gờ-ram và chỉ trên một quảng đường ngắn thì anh chiến sĩ này đã vác, ngoài cái ba-lô của anh ra, cả cái đế cối này, một cái món đồ vật của anh nhưng không phải là của anh, không phải trên một quảng đường mà là suốt cả con đường.
Đừng ai chê trách anh, đừng ai buộc tội anh. Tôi xin làm biện hộ sư cho anh tới cùng.
Anh chiến sĩ ấy là con người, anh ta phải biết suy nghĩ, phải có lương tri, vì thế anh ta đã vứt cái gánh nặng đó đi. Anh vứt nó đi là phải. Bất cứ anh bộ độ con cháu Cụ Hồ nào trên đường Trường Sơn này vứt súng đi cũng đều không đáng chê trách.
Người ở ngoài cuộc không thể hiểu được con người đã lao lực như thế nào.
Tôi chua xót nghĩ đến cái vai gầy không còn thịt đã bị cái đế cối kia cạp cho tận xương, tới cái xương sống nhu lưng đê sông Hồng uốn lượn nao núng vào mùa nước đổ, tới hai hàng xương sườn nỗi vòng lên và suýt bật tung ra mỗi lần chiếc đế cối kia, vì một cử động nhanh hoặc bất thường, đè nặng xuống vai anh ta hơn, tới hai cái chân cũng bị những mảnh đá tai mèo róc hết thịt để lộ ra những chiếc xương cong dưới sức nặng cũng của chiếc đế sắt và mỗi bước đi, những cái khớp xương cứ khua lụp cụp như những ổ đạn của những chiếc xe lâu ngày không vô mỡ bò, tới những ngón chân như những cây gậy toè đầu đã để lại máu trên những phiến đá.
Tôi nghĩ đến những bộ phận của con người bình thường nhất từ cái tóc, từ cái tai cho đến cái răng, cái mũi của anh chiến sĩ, quả tình đáng thương hại.
Anh ta là một người không còn giống người nào trên trái đất kể cả tôi, là đồng bào, đồng hành, đồng chí của anh. Tôi vụt đứng dậy vì không hiểu sao tôi lại nghĩ rằng cái đế cối này là một nấm mộ dưới đó là một bộ xương đang rã ra và vong hồn còn treo lơ lửng đâu đó trên những cành cây trên đầu tôi.
Anh chiến sĩ đã không trút khỏi cái khối nặng của Bác và Đảng đặt trên lưng anh vì anh đi giải phóng Miền Nam với cái đế cối kia mà. Anh đã vấp ngã, tôi nghĩ vậy.
Mà khi cái đế cối kia sau khi đã nằm chễm chệ trên lưng anh mấy tháng trời, nó nhân dịp đó mà trả ơn cho anh bằng cách là đè anh bẹp dí như một chiếc rập nhẹp đề một con chuột.
Và trung thành với chủ nó cho đến giờ phút cuối cùng, cái khối sắt ấy đã lấy thân ra làm nấm mộ che đậy sương gió cho anh.
Tôi chua chát nghĩ đến nhân vật anh hùng của truyện dài Paven Coóc-sa-ghin trong “Thép Đã Trui”.
Vâng, thép trong xứ Việt Nam cũng đã trui như thế đấy và con người được gắn thêm cái danh hiệu vinh quang “đi giải phóng Miền Nam” cũng đã được trui như thế ấy.
Tôi lại mang ba lô lên vai và dìu Thu đi, vừa đi vừa viết” thêm mấy chục đoạn tùy bút .
Có lẽ đó là những đoạn văn chương hay nhất của tôi, những đoạn được viết ra từ sự rung động cực kỳ mãnh liệt, từ một khung cảnh bi thương nhất mà tôi chưa từng sống cho đến cái buổi chiều hôm ấy.
Tôi nói như thằng điên, tôi nói như một thi sĩ ngâm thơ trước dân chúng yêu mến mình, tôi nói như diễn thuyết, như một thằng láo toét , tôi nói những điều phản lại chính lòng tôi :
- “Cố gắng đi em rồi ta sẽ tới ! Cách mạng Miền Nam đang mong chờ… ! ! “
Nàng bước theo tôi, mỗi bước một giọt nước mắt, không phải “Lệ” (1) của Xuân Diệu, “rách đau thương đi giữa cuộc đời,”
(1)Thơ Xuân Diệu, diễn tả nỗi mừng của nghệ sĩ được cách mạng cứu)
cũng không phải Lệ của kịch sĩ bôi cù-là trong vở Lu ba (2), mà là lệ của một nữ nghệ sĩ đẹp tuyệt trần rơi thấm đá Trường Sơn không phải để nở thành một đóa thơ, mà là để ghi dấu một tội ác.
(2) Kịch nói Liên Xô
Tôi cố hết sức dìu nàng đi tới, lưng nặng như núi đè, tay đẩy lưng nàng như đẩy một chiếc xuồng mắc cạn.
Tôi đã lê cái thân tàn của tôi không nổi mà còn phải đèo cái của quí này, trời hỡi, còn có sự bất công nào bằng ?
Nhưng trời cũng thương người. Cuối cùng rồi tôi cũng đưa nàng tới chỗ Hoàng ngồi đợi.
Hoàng đang sửa lại cái “giơ- nui-de” cầu thủ trên đầu gối.
Tôi cố gượng pha trò :
– Sút có vô quả nào không ??
– Có vớ hai quả !
– Nào, “đứng lên đi, người của núi sông, nặng lòng chi ngày xưa vương vấn. ” (3) “‘
(3) Bài ca Thanh Niên Với Mùa Xuân của Dzoãn Hối
– Nứng thế đéo nào nổi.
– Xuỵt ! – Tôi trợn mắt vào Hoàng.
– Đứng lên hay nằm xuống cho khỏe thân ?
– Người ta đi xa ba ngàn dặm rồi.
– Tôi giục, và khoác luôn chiếc ba lô của tôi lên vai, như một anh hùng giết giặc sắp được Bác bắt tay và gắn huân chương chiến công và một tay đẩy Thu, một tay lôi Hoàng.
Vì biết chắc nếu để Thu ngồi xuống thì cả hai người đều sẽ đồng tình mà đóng chốt luôn tại đây.
Cũng may, hai người giác ngộ khá cao nên “thề quyết tiến bước.”
Đi được một quãng thì đụng ngã ba. Cái ngã ba này to lớn thênh thang hơn bất cứ ngã ba nào trên đường từ Làng Ho vô đây.
– Đi ngả nào anh ? -Tôi hỏi Hoàng
- Không khéo mình đi xuống Bác Kế thì hỏng.
– Ừ nhỉ ! Đi ngõ nào bây giờ, tớ không biết mô tê !
Tôi hoang mang không biết đi đường nào. Nếu đi sai sẽ chẳng đến trạm, việc đó đã hẳn rồi !
Nhưng còn thêm cái nguy hiểm là có thể đụng vào chướng ngại hoặc lọt vào khu tử địa thì nguy.
Tôi đã bi lạc vô trại tù binh một lần và bi các ông cai ngục xét giấy, gằm ghè dữ quá, làm như mình là do thám không bằng.
Hoàng và Thu chộp lấy cơ hội ngồi xuống nghỉ. Ngồi xuống thì đứng lên, có khó gì !
Nhưng đó là đối với những người bình thường kìa, còn ở đây lại khác.
Ở đây ngồi xuống được là đít dính với đất, mọc rễ ngay tức khắc chẳng đứng lên nổi.
Phải đấu tranh tư tưởng, phải hát thầm bài Giải Phóng Miền Nam của trại cưa Kim Hữu mới đứng lên được !
– Đi ngả nào ? – Hoàng hỏi.
– Có thể ngả này - Tôi trỏ
– Ngả phía bên trái.
– Ngả nào thì tùy mày đấy . Tao không biết ngả nào là ngả đéo nào !
– Hình như có dấu chân.
– Dấu chân gì in trên sỏi đá được.
– Thì tôi tưởng tượng ra thôi ! - Tôi thở phào
- Mệt quá! Đủ thứ rắc rối. Thôi đi mẹ nó ngả đó đi.
– Không được ! Nguyên tắc của giao liên đề ra là nếu rủi bi lạc thì cứ ngồi tại chỗ họ sẽ trở lại tìm. Đi bậy bạ họ không tìm được.
Tôi nói :
– Đó là nguyên tắc xưa rồi. Bây giờ mình đi lạc họ bỏ 1uôrl, họ không có trở lại tìm đâu.
– Thằng Phẩm nó tình cảm với bọn mình mà !
– Tình thì tình, cảm thì cảm nhưng nó mệt nó không đi tìm đâu.
– Vậy thì làm gì bây giờ ?
Thu buột miệng nói :
– Mình cứ ngồi ở tại đây, chốc nữa anh ấy trở ra thế nào cũng gặp mình.
– Biết đâu nó lại đi đường khác.
– Đường khác là đường nào ?
Cãi với nhau một lúc, cả ba thấy cái biện pháp ngồi ỳ lại đây là phúc lợi hơn cả và hợp lý cho bộ giò nên ai nấy đều tìm chỗ mắc võng nằm chờ và tự giải lao bằng số nước còn lại trong bi đông, mỗi người bận rộn một kiểu.
Thu mở băng ra xem lại cái cổ chân, Hoàng thì củng cố cái bánh chè còn tôi thì ngủ.
Nắng chiều nóng như thiêu, quần áo đã đẫm mồ hôi như tắm.
Khi thức dậy thấy mình nằm giữa nắng vàng… chẳng có thơ mộng một chút nào, ngược lại tưởng đang bi cảm… nắng và có ý nghĩ mình sẽ phải đi nhà thương Biên Hòa.
Tôi nhảy xuống đất chạy vào một mép núi có bóng mát, tuột cả áo ra dùng làm quạt và quạt bất đếm bằng cái áo đẫm mồ hôi kia.
Quả thật một chập sau thì Phẩm trở lại. Cả hai bên đều mừng rỡ như những tình nhân tái ngộ .
– Tôi tưởng các anh đi lạc rồi.
– Đứt đuôi thôi .
– Vâng, hễ đứt thì cứ ở tại chỗ chờ, đi bậy nguy hiểm lắm.
– Từ đây tới trạm còn xa không ?
– Hơn tiếng đồng hồ .
– Vậy thì không sao. Bây giờ còn sớm. Tôi nói.
– Còn sớm gì nữa, mặt trời sắp lặn rồi ! -Thu cãi lại
- Em làm sao lết cho kịp
– Em cứ coi như múa một lớp Hồ Thiên Nga là tới chứ gì .
Hoàng pha trò nhưng Thu không cười nổi. Phẩm đến bên tôi, giọng cảm động
– Thôi các anh đi, mạnh giỏi nhé !
Anh có gặp anh nhà văn gì, nói em nhắn lời thăm anh ấy. Tiếc quá anh có đi ngang đây mà em không… gặp để hàn huyên.
Cậu bé rưng rưng nước mắt bắt tay tôi. Tồi bỗng thấy thương tôi thì ít, thương cậu bé thì nhiều.
Nó ở lọt tỏm giữa hoang dại đầy đe dọa, một loại “Bạch Mao Nam” do đảng tạo ra.
Cũng như ngày trước, lúc tôi còn ở Hà Nội, tôi đã đi công tác ra tận các hải đảo trong chòm đảo Hạ Long.
Ở đấy có những hòn đảo không tên. Ở đấy có những thanh niên “tình nguyện” công tác.
Mỗi đợt là sáu tháng. Công tác của họ chỉ là đốt một ngọn đèn cho tàu ngoài biển vào bến Hòn Gai ăn than và trở ra.
Họ ở trong những cái nhà đá chung quanh không có cây cối gì hết, cũng không trồng trọt được ngọn rau dây bí nào hết.
Đặc biệt là không có liên lạc bằng điện đài.
Những ngày bão to họ vào nhà đóng cửa khóa chặt và ngồi bên trong nghe sóng tràn qua nóc nhà hoặc nhìn qua cửa kính biển động sôi lên trùm phủ nhận chìm tất cả những cụm đảo lớn nhỏ.
Những cậu thanh niên thất tình muốn trốn đời, những cậu khác thì hăng máu vịt đinh tỏ lòng yêu tuyệt đối với chủ nghĩa xã hội, hoặc vì lý do này nọ khác mà xung phong ra đây, đều vái cả mũ những hòn đảo cô đơn giết người này.
Tôi đã hết sức ngạc nhiên khi bước lên những hòn đảo đó, tôi tự hỏi không hiểu các chàng trai đầy nhựa sống và mộng mị đó, đã sống làm sao một trăm tám mươi ngày và một trăm tám mươi đêm không thấy một mái tóc mềm, không nghe một tiếng thân yêu bên tai.
Vậy mà báo và đài luôn luôn ca ngợi và nói rằng có nhiều cậu đoàn viên “xung phong ở lại thêm một nhiệm kỳ nữa ! ”
Thì cũng như thằng Phẩm “xưng phong” vô làm giao liên Trường Sơn này.
Nhưng so với cái thâm sơn cùng cốc này, ở hải đảo hãy còn là hạnh phúc chán.
Ở hài đảo, cuộc sống chỉ cô đơn nhưng không bệnh tật, không bom đạn, không trộm cắp, không giật dọc, không thổ phỉ, không thú dữ rắn độc.
Còn ở đây thì có đủ, có nhiều các thứ này.
Tôi như thấy rõ nỗi u uất trong lòng cậu thanh niên xung phong trong một thoáng nhìn gương mặt cậu ta.
Tôi vỗ vai Phẩm và nói, giống y như cụ Hồ huấn thị các cháu :
– Em ở lại cố gắng công tác cho tốt nhé. Giải phóng Miền Nam xong ta về xây dựng lại đất nước tươi đẹp hơn mười lần xưa ! Chừng đó anh sẽ ghé lại ăn mận của em !
Phẩm đi khuất, tôi còn đứng nhìn theo.
Đêm nay nó ngủ một mình chắc nhớ bọn tôi lắm, nhớ con bé ở Nghi Tầm nhớ cả Hà Nội. Tất cả đều thấy đó mà lại xa vời. Cây mận của nó thì chừng nào mới trổ trái ?
Chúng tôi cuốn võng và đi ngược chiều với Phẩm. Đến nơi trời chưa tối. Nhưng chiều nay khác với những buổi chiều khác khi chúng tôi hạ trại.
Bữa nay ở địa điểm trú quân rất nhộn nhịp. Hỏi ra mới biết rằng đêm nay có Văn Công diễn phục vụ chiến sĩ. Tôi bảo Thu :
– Em đóng góp một màn đi !
– Thôi anh ơi. Em không múa nổi đâu.
– Mới hôm trước múa Hoa Champa…
– Đó là hồi em chưa trặc cổ chân kìa.
Tôi giúp nàng căng lều mắc võng.
Tôi và Hoàng cũng mắc võng nằm dưỡng lão.
Chuyện ăn uống chưa tính tới. Bỗng nghe tiếng loa vang vang (không có micro) giới thiệu các tiết mục. Tôi chưa kịp nói gì thì Hoàng đã bảo :
– Mày lại gặp “ ẻn” rồi. Coi chừng lại đổ nợ!
Quả thật, đoàn Văn Công đang biểu diễn là đoàn của Sư đoàn 330 là lính Nam kỳ quốc của Chúng tôi. Người yêu cũ của tôi đang làm “biên đạo” vũ của đoàn này. (Biên đạo tức là viết và đạo diễn).
Tôi không vui cũng không buồn, nhưng lại rất ngạc nhiên.
Văn Công biểu diễn phục vụ ai ở đây ? Trong khi lính cần gạo, thịt và thuốc men thì không đem tới, trái lại đem cho những thứ họ không cần – Nghe hát xướng mà no được sao ?
Không biết ai có sáng kiến này, một sáng kiến lạ lùng không kém sáng kiến của Tào Tháo gạt quân sĩ đang khát nước gần chết bằng cách bảo rằng ở phía trước có vườn quít.
Nhà nước có nhiều sáng kiến kinh hoàng.
Tôi còn nhớ thời kỳ Không quân Mỹ !eo thang ra Miền Bắc, Tố Hữu bắt văn nghệ sĩ phải đi thực tế bom đạn ở khu IV.
Tôi đi ra đi vào Quảng Bình và Vinh đến những bốn lần trong lúc một văn nghệ sĩ chỉ cần đi một lần là đủ “tiêu khuẩn.”
Một lần tôi đi cùng với đoàn Văn Công Trung lương đi vô Quảng Bình mảnh đất đang là mục tiêu đánh phá của Không quân Mỹ. Phương tiện vận tải là một chiếc xe Skoda của Hungari loại dùng làm xe bus ở Hà Nội.
Ban ngày sợ máy bay đánh nên phải chui trốn và ngủ lấy sức đợi tối mới đi.
Nhưng đi đêm xe phải mở đèn pha đèn cốt, nếu không thì làm sao chạy được. Để tránh làm mục tiêu cho máy bay, anh tài xế (quân sự của Bộ Quốc phòng đưa sang.
Vì ở trên sợ lái xe dân sự không có kinh nghiệm , dùng một cần câu trúc dài gắn ở đầu xe và chuyền một bóng điện nhỏ ở đầu cần câu thay vì mở đèn xe.
Và anh ta lái xe trên dường với cái ánh sáng to hơn con đom đóm đó. Bọn chúng tôi hỏi :
- Như vậy có ích lợi gì ?
Anh ta bảo :
- " Đó là sáng kiến của Cục Vận tải phổ biến khắp các đoàn xe để thi hành, không làm khác được !
Không hiểu Cục Vận tải quan niệm tầm sát thương của bom đạn như thế nào mà xài cái sáng kiến đó trong lúc máy bay của Mỹ không phải dùng mắt thường để tìm mục tiêu và nếu một quả bom ném đúng ngay vào cái đầu cần câu thì chiếc xe vẫn chạy an toàn ?
Cũng may chứng tôi không bị máy bay tấn công lần nào nhưng từ Hà Nội vào Quảng Bình, bình thường chỉ đi một ngày, chúng tôi phải mất năm đêm. Cái sáng kiến thật rất khoa học có một không hai.
Bây giờ lại gặp cái sáng kiến đem Văn Công vô phục vụ cho chiến sĩ Trường Sơn.
Nghệ sĩ biểu diễn không sân khấu không có micro. Người xem ngồi chung quanh như lửa trại hồi thời kháng chiến.
Tôi mệt bã người ra, nhưng vì công việc này có dính tới nghề nghiệp mình nên cũng ráng lê chân tới ngồi tựa gốc cây xem, còn Thu và Hoàng nhất định không đi xem coi “cái tụi nhảy cóc nhảy nhái” đó, vì Thu là diễn viên ưu tú của đoàn Ca múa Trung ương, Hoàng là thầy của thầy các diễn viên này.
Tôi cố ý tìm xem ông kẹ có mặt ở buổi biểu diễn này không.
Cuối cùng tôi thấy ông ta nằm võng và có người đem nước lại cho ông trong khi Văn Công biểu diễn ở ngay trước mặt ông như dành riêng cho ông vậy.
Không biết trước khi chúng tới đến, đoàn đã diễn những tiết mục gì, nhưng bây giờ thì đang sửa soạn đồng ca bài Chiến thắng Điện Biên Phủ cửa Đỗ Nhuận.
Chắc lâu lắm chiến sĩ mới thấy con gái đẹp tô son điểm phấn trước mặt mình nên họ nhìn trân trối.
Nói nào ngay “chất tươi” trên đường này cũng có chứ không phải là không, nhưng nó không tươi tắn mà có vẻ nhếch nhác nên không thích mắt, hơn nữa những nữ cán bộ không biết làm bộ làm tịch như Văn Công.
‘Kìa xem, họ nghiêng qua, ngả 1ại như một đám cây rừng trong gió bật ra tiếng hát.
Những người lính ngồi nghe mê mẩn. Sau những ngày, những tháng tiêu pha sức khỏe với các em “đá tai mèo” họ được những giây phút giải lao.
Hết bài Chiến Thắng Điện Biên, tiếng vỗ tay vang lên rào rào.
Tiếp theo, họ được xem “Kéo pháo” lên Điện Biên với bản nhạc nổi tiếng của Hoàng Vân, một anh nhạc sĩ rau muống được đặc ân đi học Trung Quốc nhưng khi về nước, được vinh quang đi giải phóng Miền Nam thì lại thụt lùi.
Bài Hò Kéo Pháo cũng được hoan nghênh bằng những tràng pháo tay ròn rã.
Sau những phút sống lại chiến thắng hào hùng xưa, chiến sĩ ta được xem một hoạt ảnh bằng thơ có ba diễn viên.
Hoạt cảnh này được viết bằng thơ tám chữ, lục bát có điểm xuyết vài đoạn bài chòi khu Năm.
Tôi xem hoạt cảnh đó đến nay đã hai mươi lăm năm rồi nên không còn nhớ lời thơ, chỉ ghi ra đây đại ý.
Màn Một :
Một anh chiến sĩ nghĩa vụ quân sự được người vợ chưa cưới tiễn chân đi giải phóng Miền Nam vào một buổi sáng tươi đẹp của đồng quê miền Bắc.
Hai anh chị quyến luyến nhau rất lâu và rất tình tứ pha lẫn buồn đau, nhưng hai người đều giác ngộ cách mạng cao nên đều dứt khoát nghe theo tiếng gọi của Miền Nam đau khổ.
Chị hứa ở lại Miền Bắc tăng gia sản xuất và làm theo khẩu hiệu của đảng :
“Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên.”
Còn anh thì hứa hẹn sẽ làm tròn nhiệm vụ nơi chiến trường để trở về cưới em với vòng hoa chiến thắng.
Màn Hai :
Người thanh niên đi đến Cầu Hàm Rồng thì thối chí.
Ra đi từ Hà Nội, thay vì được chở chuyên bằng xe, đơn vị lại phải hành quân bộ.
Đến quá Nho Quan mới được đi tàu hỏa.
Với sức lực hao mòn; với những gian nan đã vượt qua, chàng hình dung trước mật cảnh tượng máu lửa hãi hùng của Miền Nam.
Khi tàu hỏa đỗ lại ở ga Hàm Rồng thì chàng nhảy tàu chạy trốn nhưng bi đồng đội đuổi theo bắt lại được. Chàng phản tỉnh và tình nguyện đi giải phóng Miền Nam. Qua khỏi giới tuyến một đổi thì chàng dùng súng bắn vào chân để có lý do ở lại trong lúc đơn vi đi tới.
Màn Ba :
Người thanh niên len lỏi trốn ngược ra Bắc và về tận gia đình, thú thật mọi nỗi gian truân với người vợ.. Lần này lại có thêm bà mẹ vợ. Cả hai dùng hết lời và lập trường cách mạng để giác ngộ anh chàng.
Thêm vào đó anh chàng lại nhớ đến cha đã hi sinh anh dũng trong kháng chiến. Để xứng đáng là cháu ngoan bác Hồ và con của một người cách mạng, chàng thanh niên quay trở về một đơn vị bộ đội nhận sai lầm và lại tiếp tục vào Nam chiến đấu.
Khi hoạt cảnh bắt đầu diễn thì bộ đội còn ngồi xem như trước, nhưng khi diễn tới màn “ga Hàm Rồng” lác đác có người kêu mệt và bỏ về.
Khi diễn sang màn ba thì chỉ còn có ông kẹ và đoàn tùy tùng của ông. Tôi cố nán lại để gặp mấy thằng bạn trong đoàn Văn Công. Tôi né mặt để khỏi bị ông kẹ nom thấy.
Khi diễn sang màn ba thì chỉ còn có ông kẹ và đoàn tùy tùng của ông. Tôi cố nán lại để gặp mấy thằng bạn trong đoàn Văn Công.
Tôi né mặt để khỏi bị ông kẹ nom thấy.
Buổi biểu diễn trở nên lễnh loãng, có vẻ như muốn dứt ngang với lý do là trời đã tối , nhưng nhiều người còn thích xem nên lấy đèn pin ra thay cho ánh sáng mặt trời.
Tất cả được hơn mười chiếc mà phần lớn là của đoàn tùy tùng ông kẹ.
Họ bấm công tắc rồi để ghếch dầu đèn lên ba lô hoặc đít soong chảo chiếu thẳng vào[b] “sân khấu.”
Họ chơi ngông vậy có lẽ vì họ có đủ sức chơi. Riêng bộ đội thường thì đến Ban Chỉ huy cũng không có đèn pin đừng nói chi tới lính lãi.
Với ánh sáng của mấy chiếc đèn pìn vẫn tiếp tục màn ba của hoạt cảnh.
Có lẽ người ta đói nên phải ăn mặc dù là món ăn là thứ gì đi nữa cho nên người ta ngồi “ ăn” cái món hoạt cảnh này, càng cạn tới đáy soong nó càng nhạt ra
– Có lẽ khi vét soong húp muỗng cuối cùng thực khách ân hận vi đã ăn phải ngồi đau lưng để được đãi cho một cái mơ-nuy vô bổ như thế còn đầu bếp thì tự hứa lới mình đây là lần cuối cùng nấu món “canh” hoạt cảnh này.
Tôi trông nét mặt mấy thằng quen bới hết son phấn tội nghiệp. Chắc chúng nó tự thấy trơ trẽn nên xách đàn và vác đồ lề khác lủi nhanh. Nhưng ông kẹ đã cho người gọi chúng lại. Anh trưởng đoàn đến yết kiến ông kẹ, để cho diễn viên đi rửa mặt dưới suối.
Ông kẹ – tạm gọi là ông Mặt Sắt cho để nhớ . (Sau này độc giả sẽ lại gặp ông ấy ở cục R với vợ của ông anh hùng X. có nhiều pha vui lắm).
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng vợ và con trai Nguyễn Chí Vịnh năm 1961.
Ông Mặt Sắt là dân Bình Trị Thiên khói lửa còn anh trưởng đoàn Văn Công là người cùng quê với Bác. Hai bên nói chuyện với nhau bằng những dấu nặng chình chịch nghe mệt quá, nhưng tôi cũng nán lại xem họ nói với nhau những gì.
Chắc anh trưởng đoàn Văn Công biết ông kẹ là ai nên nói năng thưa dạ răng rắc.
Ông Mặt Sắt hỏi :
– Đoàn Văn Công của anh đi vô đây được bao lâu rồi ?
Anh trưởng đoàn đáp :
– Dạ mới có vài tuần !
– Anh chị em khỏe cả chứ ?
– Dạ không được khỏe lắm ạ !
– Mới vô mà đã không được khỏe rồi cơ à ?
– Dạ sốt rét nhiều quá ! Có đến gần một nửa bị sốt !
– Thế cơ à ? Sao không uống thuốc. Để tôi bảo bác sĩ cho anh chị em một ít kí-nin.
– Dạ vâng !
– Sao các anh đi vào đây mà không có chuẩn bị gì hết vậy ?
– Dạ, đoàn đang phục vụ ở giới tuyến mười bảy rồi được lệnh ở trên nên phải đi luôn, thành ra không có thuốc men gì hết.
– Rồi lương thực làm sao ?
– Dạ có muối thôi ạ, còn gạo thì khi có khi không.
– Thế cơ à ? Bộ mấy cái anh quân khu này coi chuyện vô đây như đi Hà Nội hay sao ?
- Này !
– Ông Mặt Sắt quay lại một anh đang đứng ở sau lưng ( có lẽ là trưởng đội tùy tùng hay bí thư riêng) :
– Anh gọi cho anh Nam Long lâp tức tiếp tế đầy đủ cho đoàn Văn Công phục vụ đường dây nghe chưa ?
– Dạ ! – Người kia đáp to.
– Gọi ngay bây giờ. Tôi muốn ngày mai đoàn Văn Công phải được trang bị đầy đủ.
– Dạ ! – Người kia quay ra đi làm nhiệm vụ.[b]
Ông Mặt Sắt hỏi tiếp anh trưởng đoàn Văn Công :
– Anh lấy đề tài cho cái hoạt cảnh ở đâu thế ?
– Dạ ở cơ sở ạ !
– Cơ sở nào, hợp tác xã hay bộ đội ?
– Dạ bộ đội ạ !
– Bộ đội nào ở đâu ?
– Dạ bộ đội ngay trên đường này, ở cách đây vài ba trạm.
– Có thực vậy hay sao ?
– Dạ, những chuyện như thế này còn nhiều ạ. Chúng tôi chỉ chọn chuyện đơn giản nhất để sáng tác. Chính đơn vị đã kể cho chúng tôi nghe để sáng tác.
Ông Mặt Sắt thở dài :
– Quái nhỉ, sao Trung ương không biết gì hết cả ?
– Dạ chúng tôi cũng không biết, chỉ thấy chuyện đó là chuyện thật như bao nhiêu chuyện thật khác Tổng cục Chính trị phát động viết đề tài “ Người Thật Việc Thật ” và có giải thưởng cho tác giả trúng giải ạ.
Những chuyện như thế này, sau khi ghi chép xong chúng tôi có đề nghị thủ trưởng đơn vị chứng nhận rồi mới dám sáng tác ạ.
– Để làm gì ?
– Dạ để khi nào ở trên có hỏi chuyện xảy ra ở đơn vị nào thì chúng tôi có chứng cớ trả lời ạ .
Nếu không , ở trên sẽ nói chúng tôi phịa và chúng tôi bị khiển trách.
– Anh có ghi đơn vị anh lấy được đề tài đó không ?
– Dạ có !
– Đâu đưa cho tôi xem.
Anh trưởng đoàn Văn Công móc túi áo lấy một quyển sổ tay mở ra đưa cho ông Mặt Sắt.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh dự Hội nghị Quân chính toàn quân lần thứ nhất năm 1960.
Ông Mặt Sắt cầm lấy. Một anh chiến sĩ đứng gần đó rọi đèn pin vào.
Anh đoàn trưởng trỏ vào trang giấy có ghi nào chữ nào số đặc nghẹt.
Ông Mặt Sắt xếp lại ngay kêu lên và trả quyển sổ lại cho người chủ :
– Quái lạ, sao lại có những hiện tượng như thế này nhỉ !
Anh chiến sĩ bấm tắt đèn. Tất cả chìm trong bóng tối. Ông Mặt Sắt làu bàu :
– Thế mà các anh văn sĩ và phóng viên viết toàn chuyện anh dũng . Những chuyện như thế này thì lại bịt mất tiêu.
Rôi ông hỏi anh đoàn trưởng:
– Hồi nãy anh có nói đây chỉ là chuyện đơn giản, vậy còn những chuyện không đơn giản là những chuyện gì?
– Dạ nhiều lắm ạ, tôi không ghi nên không nhớ
Ông Mặt Sắt ngoảnh lại anh chiến sĩ đang cầm đèn pin ở tay :
– Anh đi tìm cho tôi một ban chỉ huy đơn vị đang đi vào Nam và một anh giao liên.
– Vâng.
Ông Mặt Sắt trở lại với anh đoàn trưởng Văn Công :
– Các anh sáng tác hoạt cảnh ấy à ?
– Vâng, chúng tôi hưởng ứng phong trào “ tự biên tự diễn ” của Tổng Cục vừa đề ra.
– Vừa leo núi vừa viết được như thế à ?
– Vâng, chúng tôi họp lại bàn luận đề tài để thống nhất ý kiến rồi phân ra thành nhiều nhóm, mỗi nhóm viết một màn, xong rồi ráp lại ạ.
Đó là lối sáng tác tập thể. Viết xong diễn vài lần rồi bỏ ạ . Chúng tôi toàn áp dụng phương pháp đó.
– Cái màn ba, cha mẹ vợ và vợ xây dựng anh lính trở lại đơn vị, các anh lấy ở đâu ?
– Dạ, màn này thì chúng tôi tưởng tượng ra rồi phóng tay sáng tác ạ ! Thật ra như thế cũng rất hợp lý cách mạng và đúng chánh sách ạ.
– Ở ngoài kia các anh có áp dụng phương pháp sáng tác tập thể đó không?
– Dạ có chứ ạ ! Phương pháp này giúp cho chúng tôi tránh được chủ nghĩa sùng bái cá nhân ạ. [b](Ông Mặt sắt “hả” to lên) [b]
Nghĩa là không có đề tên tác giả [b]cũng như /b]các nghị quyết của Trung ươong để là Bộ Chính Trị chứ không đề tên ai cả.
– Ai bảo anh thế ? – Ông Mặt Sắt cười gượng – Chính trị khác văn nghệ khác chứ !
– Dạ chúng tôi học tập chỉ thị của Tổng Cục đấy ạ !
– Sao tôi không biết gì hết cả vậy?
– Dạ thì tôi cũng không biết gì hết. Nhưng ở trên bảo rằng sáng tác tập thể thì vừa biểu đạt phong phú hơn sáng tác cá nhân vừa tránh được cá nhân chủ nghĩa ạ !(Ông Mặt Sắt kêu lên : Quái nhỉ !)
Dạ, nếu có anh chị em nào sáng tác được một vở kịch hay một bài hát thì cũng đều mang ra tập thể xây dựng chung rồi sau đó đưa ra diễn thì giới thiệu tên của tác giả trước rồi kèm theo phải nói là : “với sự đóng góp của tập thể đoàn Văn Công” ạ .
Đến đây thì anh thư ký riêng trở lại báo cáo :
– Thưa anh Sáu, đồng chí Nam Long nhận khuyết điểm đã điều động văn ông vào mà không trang bị cho họ đầy đủ vì đồng chí ấy bận bố phòng các trận địa pháo ngày đêm di chuyển luôn.
Ngày hôm nay hai tàu gạo của ta bị máy bay Mỹ đánh chìm tại Vinh , hiện đồng chí đang huy động dân và bộ đội mò moi gạo lên và cho không dân chúng ai móc được bao nhiêu lấy bấy nhiêu.
– Có chuyện đó nữa à ?
– Dạ thưa có ạ ! Chính đồng chí Tư lệnh Nam Long trực tiếp nói với tôi như thế. Đồng chí còn bảo ước gì đem được số gạo đó vô đây cho anh em binh sĩ thì hay biết mấy.
– Còn việc tiếp tế cho Văn Công ? Ông Mặt Sắt gạt ngang, gắt.
– Dạ, đồng chí Nam Long nói là gạo muối thuốc men thì có đủ nhưng nếu đem vô tới đây ít ra cũng một tháng, nhanh lắm cũng ba tuần lễ, vì ta không có phương tiện gì hết.
Xe hơi chỉ đến làng Ho là phải ngừng lại. Ngoại trừ có trực thăng thì mới đem được gạo muối cho Văn Công nhanh chóng .
– Thôi được ! Cảm ơn đồng chí Văn Công nhé ! Sáng mai đồng chí đến gặp tôi.
– Vâng !
– Các anh lấy thịt kho và thuốc men dành cho tôi đưa cả cho đồng chí trưởng đoàn
– Ông Mặt Sắt bảo đoàn tuỳ tùng và làu bàu :
– Con người đâu phải con vật mà muốn ném đâu thì ném . Hậu cần như thế này có nghĩa là tự mình chuốc lấy nhục và bại thôi.
Này, nói với anh chị em nghệ sĩ rằng tôi tặng huân chương Giải Phóng cho đoàn về việc biểu diễn bữa hôm nay.
– Vâng ! Xin cảm ơn anh Sáu .
- Anh trưởng đoàn bắt mò được cách xưng hô do anh thư ký lộ bí mật vừa rồi.
Người chiến sĩ cầm đèn pin đưa anh giao liên và hai người trong ban chỉ huy một đơn vị luồn vào Nam đến trình diện anh Sáu.
Anh Sáu hỏi:
– Hai đồng chí là chỉ huy?
– Vâng, chúng tôi là D trưởng và D phó ạ!
– Còn chánh trị viên đâu?
– Dạ đã hi sinh rồi ạ!
– Tại sao?
– Dạ, cây ngã đè chết ạ!
– Lạ nhỉ!
– Dạ trong một cơn bão ạ. Thưa cũng không lạ gì ạ. Chúng tôi đã có kinh nghiệm khi có mưa to gió lớn thì bảo chiến sĩ chớ có mắc võng gần cây cao. Cây cao dễ tróc gốc.
– Đơn vị các anh còn đủ quân số không?
– Dạ…
– Các anh hãy nói thật để tôi biết, không nên giấu giếm. Giấu giếm có tôi!
– Dạ, tôi là tiểu đoàn trưởng, tôi phải nói trước! … Thưa đồng chí chủ nhiệm Tổng Cục…
– Ấy đừng gọi tôi thế. Tôi chỉ là chiến sĩ Trường Sơn thôi.
– Dạ thưa đồng chí…
– Cũng không dạ thưa…
– Tôi phải báo cáo với đồng chí sự thực là đơn vị tôi còn già nửa quân số!
– Tại sao?
– Dạ, tại vì… lính trốn nhiều quá!
– Tôi, tiểu đoàn phó, xin bổ sung! – Một giọng khàn khàn tiếp theo – Thưa đồng chí, chúng tôi được đảng giao phó cho chỉ huy một tiểu đoàn bộ binh nhưng vào đến đây thì phải dừng lại chờ gạo. Không có gạo, núi non như thế này lại mang súng đạn, không trèo nổi. Trong lúc chờ gạo lính trốn khá đông.
– Bao nhiêu?
– Mười bảy chiến sĩ.
– Họ đi đâu?
– Họ trở về Hà Nội.
– Tại sao?
– Họ bảo đi nam không có tương lai… Dạ ngoài ra họ còn tự bắn vào đùi hoặc vào chân để có lý do nằm lại. Như đồng chí thấy trong hoạt cảnh…
– Đó là sự thực à?
– Vâng!
(Tôi thầm bảo: còn nhiều sự thực bi đát hơn, định xía vô câu chuyện nhưng chưa chưa kịp nói thì viên tiểu đoàn phó nói tiếp.)
– Họ còn tự sát nữa cơ!
– Có chuyện đó nữa cơ à?
– Dạ tôi đâu dám bịa tạc những chuyện tày trời như thế.
Ông Mặt Sắt thở dài rất to. Im lặng hồi lâu.
– Rồi các đồng chí giải quyết như thế nào?
– Dạ nếu có gạo thì mới giải quyết được, ngoài ra không có cách gì khác.
Anh giao liên lên tiếng sau khi nghe mọi chuyện của tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó.
– Họ đã từng đánh tôi, thưa đồng chí thủ trưởng!
– Vì sao?
– Tại vì tôi dắt họ đi lãnh gạo, đến kho thì quản kho không còn ở đó.
– Tại sao?
– Dạ không rõ. Còn khi thì không còn gạo. Chắc có lẽ đồng chí sợ bộ đội đánh.
– Tại sao?
– Dạ, giận cá chém thớt vậy thôi. Cũng có khi họ cho là quản kho giấu gạo để ăn riêng không phát. Họ giận lây họ đánh cả giao liên.
Lại tiếng thở dài.
– Này gọi Tư lệnh Nam Long cho tôi nói chuyện.
– Vâng!- Người thư ký đáp rồi gọi người chiến sĩ mang máy bồ-đàm tới (đây là loại tê-lê-phôn của nhà binh mang trên lưng, tôi không hiểu vì sao có cái tiếng bồ-đàm này. Cũng như cái bình thủy được gọi là cái “phuých” nước.)
Người chiến sĩ cầm ống gọi. Một chập, trao cho ông Mặt Sắt và nói:
– Dạ đây là Tư lệnh Nam Long, xin anh Sáu cho chỉ thị.
– Alô! Đồng chí Nam Long đấy hả… Tôi đang trên đường vào … Gạo nước thế nào? Không có đủ cũng phải kiếm cho đủ. Để các đơn vị khác thiếu cũng được. Riêng trên đường này không được thiếu. Chiến sĩ ở đây không có gạo. Giải phóng Miền Nam sẽ không thành công nêu không có gạo cho bộ đội ăn. À, thuốc men nữa… Không có thì chạy đi tìm. Hai tàu gạo…đồng chí cho bảo vệ thế nào lại bị đánh chìm thế hở…? Hừ, thì phản lực nhanh nhưng nếu ta có pháo phòng không giữ kỹ thì nó đâu có đến được… Núi Quyết nữa cơ à? Có thiệt hại gì không? tốt lắm. Tôi nhắc lại: Gạo và thuốc men cho đường này ưu tiên một nghe không?…
Tôi phải vào…chưa biết chừng nào mới đến… Tưởng là đi xe suốt, nhưng vào đến đây, đường bị phá không đi xe được . Cố gắng nhé. Tôi còn nằm ở đây… Chưa biết bao lâu!..
Ông Mặt Sắt đưa ống nói cho anh chiến sĩ và nói với các người khác:
Người chiến sĩ cầm đèn pin đưa anh giao liên và hai người trong ban chỉ huy một đơn vị luồn vào Nam đến trình diện anh Sáu.
Anh Sáu hỏi :
– Hai đồng chí là chỉ huy ?
– Vâng, chúng tôi là D trưởng và D phó ạ !
– Còn chánh trị viên đâu ?
– Dạ đã hi sinh rồi ạ !
– Tại sao ?
– Dạ, cây ngã đè chết ạ !
– Lạ nhỉ !
– Dạ trong một cơn bão ạ. Thưa cũng không lạ gì ạ. Chúng tôi đã có kinh nghiệm khi có mưa to gió lớn thì bảo chiến sĩ chớ có mắc võng gần cây cao. Cây cao dễ tróc gốc.
– Đơn vị các anh còn đủ quân số không ?
– Dạ…
– Các anh hãy nói thật để tôi biết, không nên giấu giếm . Giấu giếm có tội !
– Dạ, tôi là tiểu đoàn trưởng, tôi phải nói trước ! … Thưa đồng chí chủ nhiệm Tổng Cục…
– Ấy đừng gọi tôi thế . Tôi chỉ là chiến sĩ Trường Sơn thôi .
– Dạ thưa đồng chí…
– Cũng không dạ thưa…
– Tôi phải báo cáo với đồng chí sự thực là đơn vị tôi còn già nửa quân số !
– Tại sao ?
– Dạ, tại vì… lính trốn nhiều quá !
– Tôi, tiểu đoàn phó, xin bổ sung!
– Một giọng khàn khàn tiếp theo :
– Thưa đồng chí, chúng tôi được đảng giao phó cho chỉ huy một tiểu đoàn bộ binh nhưng vào đến đây thì phải dừng lại chờ gạo.
Không có gạo, núi non như thế này lại mang súng đạn, không trèo nổi. Trong lúc chờ gạo lính trốn khá đông.
– Bao nhiêu ?
– Mười bảy chiến sĩ .
– Họ đi đâu ?
– Họ trở về Hà Nội .
– Tại sao ?
– Họ bảo đi Nam không có tương lai …
Dạ ngoài ra họ còn tự bắn vào đùi hoặc vào chân để có lý do nằm lại. Như đồng chí thấy trong hoạt cảnh…
– Đó là sự thực à ?
– Vâng !
(Tôi thầm bảo : Còn nhiều sự thực bi đát hơn, định xía vô câu chuyện nhưng chưa chưa kịp nói thì viên tiểu đoàn phó nói tiếp.)
Họ còn tự sát nữa cơ !
– Có chuyện đó nữa cơ à ?
– Dạ tôi đâu dám bịa tạc những chuyện tày trời như thế.
Ông Mặt Sắt thở dài rất to. Im lặng hồi lâu.
– Rồi các đồng chí giải quyết như thế nào ?
– Dạ nếu có gạo thì mới giải quyết được , ngoài ra không có cách gì khác.
Anh giao liên lên tiếng sau khi nghe mọi chuyện của tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó.
– Họ đã từng đánh tôi, thưa đồng chí thủ trưởng !
– Vì sa o?
– Tại vì tôi dắt họ đi lãnh gạo, đến kho thì quản kho không còn ở đó.
– Tại sao ?
– Dạ không rõ. Còn khi thì không còn gạo. Chắc có lẽ đồng chí sợ bộ đội đánh.
– Tại sao ?
– Dạ, giận cá chém thớt vậy thôi. Cũng có khi họ cho là quản kho giấu gạo để ăn riêng không phát. Họ giận lây họ đánh cả giao liên.
Lại tiếng thở dài .
– Này gọi Tư lệnh Nam Long cho tôi nói chuyện .
– Vâng !
- Người thư ký đáp rồi gọi người chiến sĩ mang máy bồ-đàm tới (đây là loại tê-lê-phôn của nhà binh mang trên lưng, tôi không hiểu vì sao có cái tiếng bồ-đàm này. Cũng như cái bình thủy được gọi là cái “phuých” nước.)
Người chiến sĩ cầm ống gọi. Một chập, trao cho ông Mặt Sắt và nói :
– Dạ đây là Tư lệnh Nam Long, xin anh Sáu cho chỉ thị.
– Alô ! Đồng chí Nam Long đấy hả… Tôi đang trên đường vào … Gạo nước thế nào ? Không có đủ cũng phải kiếm cho đủ. Để các đơn vị khác thiếu cũng được. Riêng trên đường này không được thiếu.
Chiến sĩ ở đây không có gạo. Giải phóng Miền Nam sẽ không thành công nêu không có gạo cho bộ đội ăn. À, thuốc men nữa… Không có thì chạy đi tìm.
Hai tàu gạo…đồng chí cho bảo vệ thế nào lại bị đánh chìm thế hở…?
Hừ, thì phản lực nhanh nhưng nếu ta có pháo phòng không giữ kỹ thì nó đâu có đến được…
Núi Quyết nữa cơ à ? Có thiệt hại gì không ? tốt lắm. Tôi nhắc lại :
- Gạo và thuốc men cho đường này ưu tiên một nghe không?…
Tôi phải vào…chưa biết chừng nào mới đến… Tưởng là đi xe suốt, nhưng vào đến đây, đường bị phá không đi xe được . Cố gắng nhé. Tôi còn nằm ở đây… Chưa biết bao lâu !..
Ông Mặt Sắt đưa ống nói cho anh chiến sĩ và nói với các người khác:
– Vấn đề gạo sẽ được giải quyết nay mai anh ạ ! Tôi nghe trộm nên biết thế.
– Ai nói thế ?
– Ông kẹ gọi và chỉ thị trực tiếp cho Đại tá Tư lệnh Quân Khu IV, tôi nghe bằng chính lỗ tai tôi .
– Có chắc không ?
– Thì nó đã được Bộ trông thấy tận mắt . Lính đói rõ rồi chứ phải chỉ nghe đâu !
– Gạo tiếp tế cho Bà Thủy hết rồi !
– Hả ! – Tôi giật mình – Sao anh nói vậy ?
– Thì hai tàu gạo đó là gạo tiếp tế cho đường này chứ ai. Bị đánh chìm ở Bến Thủy
– Hoàng tiếp – Lúc ổng nói với ông Tư Lệnh tao có ở đó. Tao đến xem văn công lúc gần xong màn ba.
Tôi nói :
– Anh không nghe ổng nạo ông Nam Long hay sao ?
– Vấn đề không phải là “nạo” mà là “gạo”. Nạo thế mấy mà ông Nam Long không có gạo cũng không tài nào tiếp tế được !
Sáng hôm sau tôi còn đang ngủ thì một bàn tay đập đập võng tôi. Tôi tốc mùng ra nhìn thì ra thằng nhạc sĩ của đoàn, bạn của tôi từ thời chống Pháp ở Miền Tây Nam Bộ:
– Ông kẹ gọi mày !
– Kẹ nào ? – Tôi bật dậy hỏi.
– Còn ông kẹ nào nữa ?
– Sao mày biết tao ở đây ?
– Lúc tao diễn cái họat cảnh tao nom thấy mày ngồi gần gốc cây.
– Ủa mày đổi nghề rồi sao ?
– Mấy đứa trong tổ kịch sốt rét, tao phải thế vai, không có chó bắt mèo ăn cứt .
– Ổng gọi tao làm gì?
– Không rõ thằng nào mách mà ổng biết có tụi bây ở đây. Ổng tính mở một buổi họp để nghe tố khổ . Nè.
– Gì ?
– Muốn thăm con bé của mày không ?
– Thôi ! Còn gì để nói mà gặp .
– Phải rồi, gặp cũng chẳng làm gì. Nó đang bị “ lập trường đè” . Một cổ hai tròng mày ạ ! Nó đang sốt rét rên hù hù đằng kia.
– Khổ quá , họp thì họp , gọi tụi này làm gì.
Thằng nhạc sĩ bạn tôi đi, tôi quay ra gọi Hoàng . Hoàng đáp :
– Mày có đi thì đi, tao cử mày đại diện cho tao và con Thu đó.
– Làm biếng hoài cha nội.
- “Phương tiện giao thông” của mày còn khá thì ráng chút đi, coi ổng có cho cái gì không?
– Nói thì nhất định có nói rồi nhưng cho thì chắc là không.
– Sẵn dịp mày tố khổ luôn . Mấy khi được nói thẳng vào lỗ tai kẹ.
Tôi đến thì thấy một lô người ngồi trước võng của ông Mặt Sắt. Ông đang ngồi trên võng hai tay giăng ra nắm hai đầu võng như con chim gi soải cánh. Ông đang cà gục cà gặc cái mặt sắt về phía đám người.
Thú thực là nếu ở Hà Nội thì tôi không đến cái buổi họp vì hai lần tôi gặp ông Mặt Sắt.
Một lần ở Viện Văn Học mà tôi đã kể ở trên kia. Lần thứ hai tôi đọc bài “ Cây đa bến cũ, con đò khác đưa ” trên báo Nhân Dân.
Cái lối của ổng là bất chấp đối tượng và bất chấp lý lẽ. Cái lối của ổng là bắt người khác nghe theo lý lẽ của mình mặc dù lý lẽ đó chưa hẳn đã là chân lý.
Nguyễn Chí Thanh (tức Sáu Di) phát biểu tại Hội nghị Tổng kết công tác của Quân ủy Miền và Trung ương Cục miền Nam, năm 1965.
Ông đang nói :
– … Cách mạng Miền Nam đang gặp khó khăn. Quân Mỹ đang đổ bộ thêm vào Sàigòn. Chúng tăng cường cho bọn Sàigòn hai ngàn trực thăng và rất nhiều dụng cụ truyền tin. Miền Bắc chúng ta phải hi sinh nhiều hơn nữa. Trận Pleime là trận thử sức giữa ta và nó…
Ông ngưng lại, không nói cái kết quả của cuộc thử sức đó ra sao nhưng ai cũng biết nó ra sao rồi. Ông nói sang những vấn đề trên đường dây :
– Đảng và Chính Phủ không phải là không thấy những khó khăn về gạo thóc thuốc men ở đây. Trong lúc Miền Bắc mất mùa nhân dân phải thắt lưng buộc bụng thêm nữa.
Đảng và Chính Phủ đã cho chở vào Vinh hai tàu gạo để đưa vào đây, nhưng rủi ro đều bị đánh chìm ở Bến Thủy.
Đồng chí Tư Lệnh Quân Khu IV cho tôi biết hiện giờ đồng chí đang động viên dân và bộ đội lặn moi lên. Nước mặn gạo ngâm một đêm là hỏng hết cả. Ở dưới hầm tàu, dễ gì moi lên. Tôi nói rõ cho các đồng chí nghe một sự kiện quan trọng như vậy để các đồng chí thấy Đảng và Chính Phủ rất quan tâm tới con đường này chứ không phải để các đồng chí ăn đói ăn khát rồi thối chí nản lòng.
Làm cách mạng, không ai được thối chí nản lòng.
Những lúc đảng gặp khó khăn thì chính là những lúc đảng cần bàn tay và khối óc của đảng viên và quần chúng yêu đảng chia sẻ gánh nặng với đảng chứ không phải là lúc chửi đổng và phá đám như bọn Nhân Văn Giai Phẩm.
(Cái câu cùng này đúng y nguyên văn tới nghe ở Viện Văn học mấy năm trước )
Ông tiếp :
– Bây giờ gạo thiếu thốn, các đồng chí chỉ huy không điều khiển đơn vị được. Như tôi xem thấy trong họat cảnh tối qua, chiến sĩ đào ngũ, tự sát thương, vô kỷ luật .. chúng ta nhìn nhận hiện tượng đó nhưng là người Cộng sản chúng ta phải đặt vấn đề khắc phục nó như thế nào, chứ không nên đứng nhìn nó hoặc xuôi tay cho nó tràn ngập chúng ta.
Tôi thay mặt Trung ương đảng, Tổng quân ủy, xin gởi lời chào thân ái và quyết thắng của Hồ chủ tịch đến các đồng chí. Các đồng chí còn có ý kiến gì không ?
Mọi người im phăng phắc.
Ý kiến gì bây giờ ? Té ra làm cách mạng với đảng thì không cần gạo . Dù có phải trèo non vượt biển, cứ hễ thiếu gạo thì tìm cách khắc phục lấy, không được thối chí nản lòng.
Diễn Đàn Người Việt Hải Ngoại. Tự do ngôn luận, an toàn và uy tín. Vì một tương lai tươi đẹp cho các thế hệ Việt Nam hãy ghé thăm chúng tôi, hãy tâm sự với chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi giây phút có thể. VietBF.Com Xin cám ơn các bạn, chúc tất cả các bạn vui vẻ và gặp nhiều may mắn.
Welcome to Vietnamese American Community, Vietnamese European, Canadian, Australian Forum, Vietnamese Overseas Forum. Freedom of speech, safety and prestige. For a beautiful future for Vietnamese generations, please visit us, talk to us every day, every hour and every moment possible. VietBF.Com Thank you all and good luck.