R9 Tuyệt Đỉnh Tôn Sư
Join Date: Jan 2005
Posts: 36,215
Thanks: 30,706
Thanked 21,540 Times in 9,861 Posts
Mentioned: 165 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 824 Post(s)
Rep Power: 86
|
Tiêu Văn đến Hà nội vào ngày 9/9/1945.
14/9/1945 Tư lệnh quân Tưởng Giới Thạch vào Miền Bắc giải giáp Nhật là Lư Hán cũng có mặt ở Hà Nội.
Trái với dự đoán chung của mọi người cho rằng Lư Hán tới sẽ được đón tiếp một cách long trọng ầm ĩ, ông ta và Bộ tham mưu vẫn đóng kín đáo trong dinh Toàn quyền. Do đó đă lan tràn nhiều tin đồn đại về việc sắp sửa thi hành thiết quân luật, thực hiện chế độ quân quản, các đội hành quyết, lệnh giới nghiêm v.v… Nhưng chẳng có ǵ như thế đă xảy ra trong thời kỳ Trung Quốc chiếm đóng
Ngày 16/9/1945 Hồ Chí Minh đến Phủ Toàn Quyền gặp Lư Hán.
Trong buổi gặp gỡ này Ông Hồ đă phải chấp nhận và nhượng bộ nhiều sự chèn ép của Lư Hán chủ yếu về vấn đề kinh tế và giải quyết những yêu sách của người Hoa đang sinh sống ở Việt nam, nhưng ông cũng thở phào nhẹ nhơm khi Lư Hán lấy một giọng điệu hoà giải hơn và tuyên bố rằng sự có mặt của Trung Quốc ở Đông Dương là vấn đề “thuần tuư quân sự và nhằm đáp ứng lại yêu cầu của các cường quốc Đồng minh để giải giáp và hồi hương quân Nhật”. Thực hiện xong điều đó, nhiệm vụ của Trung Quốc ở Việt Nam sẽ kết thúc.
Tuy vậy, cuộc chiếm đóng của 15 vạn quân Tưởng (đây là con số của Trung Hoa Dân Quốc gửi cho Pháp để lấy chi phí nuôi đạo quân này và các lợi ích kinh tế khác theo Hiệp ước Pháp- Hoa, đổi lấy việc Trung Hoa dân Quốc đồng ư cho Pháp thế chân ở Đông Dương) vẫn là một thời kỳ tai hại, gây tổn hại cho người Việt Nam trong lúc nạn đói đang hoành hành, và chính phủ của Hồ Chí Minh ngân khố hoàn toàn trống rỗng.
Chính v́ vậy ngay sau khi gặp Lư Hán ông Hồ đă gửi thư cho người dân cả nước phát động “Tuần lễ VÀNG”. Trong thư, ông nêu rơ ư nghĩa kêu gọi mọi người, nhất là các nhà giàu có, tích cực quyên góp vàng để phụng sự quốc gia, nhưng thực chất một phần lớn lượng vàng, đồ trang sức và tiền xu đă được dùng để trả cho quân Trung Quốc đang chiếm đóng miền Bắc Việt Nam. Gạo sang Nam Kỳ của người Pháp tháng 10/1945 được Hồ Chí Minh chia, miền Bắc chỉ nhận được 1/3 trong khi quân Trung Quốc được 2/3. Hồ Chí Minh tặng dụng cụ hút thuốc bằng vàng và một tẩu thuốc phiện bằng vàng cho Lư Hán sau tuần lễ vàng và mua vũ khí bằng số tiền c̣n lại….
Quân Tưởng tràn vào mang theo đồng quan kim (tiền Trung Quốc) đang mất giá và Lư Hán “yêu cầu” với ông Hồ là giá hối đoái được ổn định ở mức 14 quan kim ăn 1 đồng bạc, ông Hồ liền yêu cầu nên để vấn đề này lại cho tới khi thành lập một uỷ ban tài chính. Nhưng chỉ mấy ngày sau, không có thảo luận ǵ thêm, Lư Hán ấn định một cách chính thức và một chiều giá hối đoái là 14 ăn 1. Tỷ lệ này đối với đồng quan kim mất giá, cùng với các thủ đoạn tài chính khác, đă đặt khuôn khổ cho một hoạt động chợ đen đồ sộ thực sự đă tàn phá nền kinh tế Việt Nam.
Với những đồng quan kim mà ở Trung Quốc phải có hàng tấn mới có giá trị, các sĩ quan Trung Quốc ở Việt Nam có những quan hệ kinh doanh riêng, đă kết hợp chặt chẽ với con buôn, chủ nhà băng, và thầu khoán để mua bằng một giá rẻ mạt mọi công cuộc kinh doanh có lợi mà họ thấy ở Việt Nam. Số này hoạt động không chỉ trong cơ cấu tổ chức quân sự Trung Quốc mà c̣n qua hệ thống của Đoàn Cố vấn Việt Nam do Quốc dân Đảng ở Trùng Khánh đỡ đầu.
Các công ty và trust nhanh chóng được thành lập để nắm quyền làm chủ hoặc kiểm soát các lợi ích ở Việt Nam hoặc các đồn điền của chủ Pháp, các trang trại, dinh thự, nhà máy, hầm mỏ, bến cảng và phương tiện giao thông vận tải… Nhà ở tư nhân, nhà hát, tiệm nhảy, khách sạn, cửa hàng và các nhân viên phục vụ đều được các ông chủ trả theo một giá rất thấp. Nếu họ phản đối hoặc dám bác bỏ đề nghị của các hiệp hội th́ giới quân sự đă có cách để cưỡng ép họ…
Ở Hải Pḥng, quân Trung Quốc đă cưỡng ép các nhà buôn địa phương khi họ từ chối không nhận tiền quan kim v́ đă được định theo một giá hối đoái không thực tế. Ở Tuyên Quang, các nhà chức trách quân sự Trung Quốc đă quy định (ít ra cũng là tạm thời) giá 1 quan kim ăn 20 đồng bạc Đông Dương. Tại Hà Nội, các nhà buôn Hoa kiều lại đổi 1 quan kim ăn 1 đồng bạc.
Lư Hán yêu cầu Hồ Chí Minh phải tiến hành sửa chữa ngay một số đường liên lạc điện tín điện thoại bị phá hoại dẫn tới Hà Nội, Hải Pḥng để quân đội của ông ta kịp thời chuyển tới. Ông Hồ nói lại là cần phải có thời gian nếu như quân đội Trung Quốc không đảm nhận lấy việc này, nhưng Lư Hán kiên quyết không chịu nên ông Hồ phải đồng ư nhận cung cấp nhân công nếu như được Trung Quốc giúp đỡ về vật liệu.
Biết tin quân Tưởng chuẩn bị vào các nhà buôn đă thay đổi mặt hàng ngay từ ban đêm. Chỉ những ǵ ế ẩm mới được trưng ra và với giá đă được tăng lên rất cao. Các cửa và cửa sổ hướng ra thành phố đều bị đóng khoá chặt. Ngay giữa ban ngày, không có người phụ nữ Việt Nam và Âu nào dám đi ra phố mà không có nam giới đi cùng…
Nhưng cộng đồng người Hoa ở Hà Nội là một ngoại lệ.
Ban đầu họ xô ra đường để đón chào các đồng hương của họ. Nhưng sau khi đoàn hậu quân đă tới th́ sự phấn khởi của dân địa phương cũng tan biến đi. Hơn nữa, v́ lo cho tương lai, các nhà lănh đạo cộng đồng người Hoa ở đây muốn được có an ninh nên đă yêu cầu phái đoàn Mỹ (nhóm OSS của Patti) chuyển cho Lư Hán bức điện sau đây:
“Hoa kiều ở Hà Nội xin gửi đến ngài những lời chào mừng nhiệt liệt và sự kính trọng sâu sắc nhất trước sự nghiệp sáng láng của ngài trong cuộc chiến thắng cuối cùng và chuẩn bị đón mừng một cách nồng nhiệt nhất ngày ngài tới Đông Dương”.
Vào thời kỳ đó, dân chúng Hoa kiều ở toàn Đông Dương có khoảng 50 vạn người. Tuyệt đại bộ phận họ tập trung tại Chợ Lớn, thành phố toàn người Hoa sát với Sài G̣n và tại Pnom Penh, thủ đô Kampuchia. Một số đáng kể sống ở Sài G̣n, Hải Pḥng và Hà Nội. Họ giữ một vai tṛ có ưu thế trong đời sống kinh tế của đất nước, kiểm soát rộng răi về tài chính các ngành thương mại và buôn bán. Những người Hoa ở Việt Nam hợp thành một tập đoàn dân tộc cần cù có những mối quan hệ gia đ́nh và chính trị khá chặt chẽ với Trung Quốc, nơi mà họ bày tỏ ḷng trung thành duy nhất với đất nước của họ…
Hoa kiều ở đây không sống riêng biệt mà quây quần với nhau trong những khu vực của lớp người trung gian được gọi là các “bang”.
Hiệp ước Nam Kinh 1935 đă coi những Hoa kiều này như là những “người ngoại quốc có quy chế ưu đăi”, phải tuân theo pháp luật của Pháp và đóng thuế cho người đại diện cho mỗi “bang”. Theo quy định đó th́ họ chẳng có ǵ phải ngại đối với người Việt cũng như người Âu hay Nhật.
Những người Hoa kiều này hy vọng Lư Hán, với toàn quyền cai trị nhân danh Tưởng, sẽ giải thoát họ khỏi sự thống trị của người Pháp, khỏi cái mà họ coi như một quy chế tốn kém và phụ thuộc.
Chỉ hai ngày sau khi tới Hà Nội, Lư Hán đă chỉ thị cho Chính phủ Lâm thời Việt Nam băi bỏ “chế độ các bang” trong việc đối xử với cộng đồng người Hoa ở Đông Dương. Đó là một thủ đoạn tạo nền móng cho người Hoa ở Việt Nam về kinh tế sau khi họ rút đi và Pháp quay trở lại.
(C̣n tiếp).
__________________
|